Chánh Niệm về Tâm

Thực hành niệm Tâm - tổng kết

Thực hành Tứ Niệm Xứ là thực hành Chánh Niệm với 4 đề mục:

  1. Chánh Niệm về Thân
  2. Chánh Niệm về Thọ
  3. Chánh Niệm về Tâm
  4. Chánh Niệm về Pháp

Bài viết này giới thiệu đề mục thứ nhất là Chánh Niệm về Tâm còn gọi là Niệm Tâm hay Quán Tâm nơi Tâm.

 

Niệm Tâm (Quán Tâm nơi Tâm)

GIỚI THIỆU CHUNG

Thực hành Niệm Tâm hay quán tâm nơi tâm là rèn luyện trí nhớ Chánh về tâm, cụ thể là: Nhớ đến tích cực chú tâm quán sát tâm nơi tâm theo nhịp thở, nhịp đi hay nhịp làm việc.

Thực hành Niệm Tâm tức rèn luyện hiểu biết đúng sự thật về Tâm sẽ đưa đến an trú Tỉnh giác và Chánh kiến về Tâm, kinh nghiệm Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát.

Lộ trình tâm Bát Chánh Đạo khi thực hành Niệm Tâm:Thực hành Tứ Niệm Xứ-Tuệ Tri về Tâm

Có thể thực hành Niệm Tâm trong nhiều tư thế: thiền tọa, thiền đứng, thiền hành, thiền nằm, trong sinh hoạt đời sống.

CÁC ĐỀ MỤC THỰC HÀNH & TUỆ TRI

Thực hành Niệm Tâm là nhớ đến tích cực chú tâm quán sát Tâm nơi Tâm, để nhiếp phục tham ưu ở đời và kinh nghiệm được kết quả xảy ra, đồng thời TUỆ TRI các kết quả đó. Cụ thể:

  • Tuệ tri Tâm gồm Thọ – Tưởng – Hành – Thức.
  • Tuệ tri nhóm Tưởng; Tuệ tri mỗi Tâm ghi nhận chỉ ghi nhận 1 loại Cảm giác; Tuệ tri Duyên khởi các loại Tâm ghi nhận; Tuệ tri Tâm ghi nhận Vô thường, Vô chủ vô sở hữu.
  • Tuệ tri Tâm ý thức; Tuệ tri Duyên khởi Tâm ý thức do Niệm – Tư duy – [Ý thức – Tư tưởng] và 2 loại Ý thức: Tà Kiến và Chánh Kiến.
  • Tuệ Tri Tâm biết Tâm chứ không phải Tâm biết Cảnh; Tuệ tri Tâm biết và Đối tượng được biết đồng sanh đồng diệt.
  • Tuệ tri Vô ngã khi quán Tâm.

HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH – Niệm Tâm

TỌA THIỀN

Khởi đầu: thực hành chú tâm thấy cảm giác toàn thân theo nhịp thở tuần tự từ mở mắt rồi mới nhắm mắt. Khi đã vào định vững chắc thì chuyển sang Chánh tư duy những nội dung về TÂM theo nhịp thở.

Đề mục 1 – CHÁNH TƯ DUY TỔNG QUÁT VỀ TÂM

Tâm là một danh từ chung, để chỉ cho nhiều thứ tâm khác nhau. Chứ Tâm không phải là một danh từ riêng, để chỉ cho một THỰC THỂ TÂM nào đó.

Tâm có thể chia làm 4 nhóm (uẩn): THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC

1. Nhóm THỌ: gồm 6 loại cảm giác (cảm giác hình ảnh, cảm giác âm thanh, cảm giác mùi, cảm giác vị, cảm giác xúc chạm, cảm giác pháp trần)

2. Nhóm TƯỞNG: gồm 6 tâm ghi nhận (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, tưởng thức)

3. Nhóm HÀNH:

  • Trên Bát Tà Đạo: tà niệm, tà tư duy, tham, sân, si, tà định, dục, tà tinh tấn, phi như lý tác ý, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, khổ, vui.
  • Trên Bát Chánh Đạo: chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định, chánh tư duy, chánh tri kiến, như lý tác ý, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.

4. Nhóm THỨC:

  • Trên Bát Tà Đạo: tà tri kiến và tư tưởng tà kiến
  • Trên Bát Chánh Đạo: chánh tri kiến và tư tưởng chánh kiến.
Tứ niệm xứ-con đường 2 ngả
Các thứ tâm khác nhau trên lộ trình tâm Bát tà đạo và Bát chánh đạo

Đề mục 2 – QUÁN NHÓM TÂM GHI NHẬN (TƯỞNG UẨN) VÀ TÂM BIẾT Ý THỨC (THỨC UẨN)

Quán trong định: khi hết nhịp thở, bắt gặp đối tượng nào nổi trội thì quán là Tâm ghi nhận, đồng thời khởi lên Chánh kiến biết Tưởng thức ghi nhận cảm giác đó. Ví dụ: khi bắt gặp cảm giác hình ảnh thì Chánh kiến khởi lên biết là Nhãn thức ghi nhận Cảm giác hình ảnh.

Khi thực hành sẽ quán sát được các thứ tâm ghi nhận khi nó đang xảy ra (nên gọi là quán Tâm nơi Tâm). Có 6 loại Tâm ghi nhận gồm: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Tưởng thức. Đồng thời Tuệ tri được Tâm biết ý thức Chánh kiến biết đúng sự thật hiện tượng đang xảy ra.

→ TUỆ TRI: TÂM BIẾT TÂM – các Tâm ghi nhận ghi nhận các đối tượng thực tại là cảm giác. Và Tâm biết ý thức biết về kiến thức, về tư tưởng. Đó chính là Tâm biết Tâm, chứ không phải là TÂM BIẾT CẢNH. Thọ_Tưởng và Ý thức_Tư tưởng là đồng sanh đồng diệt, đồng thời tồn tại.

Đề mục 3 – QUÁN DUYÊN KHỞI CÁC TÂM GHI NHẬN

Quán trong định: Với các sự kiện nổi trội thì quán duyên khởi của các Tâm ghi nhận đó.

Ví dụ: Khi ý thức khởi lên biết là Nhãn thức ghi nhận cảm giác hình ảnh, thì lúc đó quán luôn duyên khởi: Nhãn thức là do mắt tiếp xúc với sắc trần mà phát sinh.

Đề mục 4 – TUỆ TRI VÔ THƯỜNG, VÔ CHỦ SỞ HỮU, VÔ NGÃ

Quán Tâm ghi nhận và Tâm biết ý thức theo nhịp thở.

Thỉnh thoảng quán tính chất Vô thường và Vô chủ sở hữu của các Tâm ghi nhận.

TUỆ TRI VÔ NGÃ: Khi quán sát các loại Tâm ghi nhận như vậy thì kinh nghiệm được là chỉ có các Tâm ghi nhận ghi nhận các đối tượng và Tâm biết ý thức biết hiện tượng đó. Chứ hoàn toàn không khởi lên tư tưởng: Ta thấy, Ta nghe, hay là Ta hiểu biết. Hoàn toàn vắng mặt tư tưởng chấp ngã.

Đề mục 5 – QUÁN SÁT CÁC TÂM HÀNH

Nhóm HÀNH bao gồm nhiều Tâm hành khác nhau. Khi thực hành chú tâm quán sát Tâm nơi Tâm thì chỉ quán một số Tâm hành thôi. Cụ thể là một số Tâm hành trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo:

  1. Tâm hành CHÁNH NIỆM

Lúc nào nhất tâm, quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà nhất tâm, lúc đó Tuệ tri được là có Chánh niệm. Còn khi nào mà quên ngậm chặt răng lưỡi, quên nhịp thở, quên các Chánh niệm kia, lúc đó Tà niệm khởi lên thì lúc đó không có mặt Chánh niệm.

  1. Các Tâm hành TÍCH CỰC, VUI, THOẢI MÁI

Khi nhớ đến tích cực chú tâm ghi nhận cảm giác toàn thân thì lúc đó kinh nghiệm được các Tâm hành tích cực, vui, thoải mái.

  1. Tâm hành CHÚ TÂM

Thuộc về Chánh định, kinh nghiệm được khi có chú tâm liên tục ghi nhận cảm giác toàn thân.

Đề mục 6 – QUÁN TƯỞNG THỨC GHI NHẬN CẢM GIÁC PHÁP TRẦN

Thực hành trong tư thế nhắm mắt hoàn toàn. Quán Tưởng thức ghi nhận cảm giác pháp trần theo nhịp thở. Lúc này là quán sát với chú tâm có tầm có tứ: hướng đến đối tượng Cảm giác pháp trần.

Tuệ tri các đề mục:

  • Duyên khởi của Cảm giác pháp trần: do ý tiếp xúc với lượng thông tin pháp trần mà phát sinh. Nó là tâm chứ không có một thế giới vật chất nào đằng sau cả.
  • Tuệ tri tính chất Vô thường, Vô chủ sở hữu và Vô ngã khi quán Tưởng thức ghi nhận cảm giác pháp trần.
  • Khi đã quán Tưởng thức ghi nhận Cảm giác pháp trần đầy đủ, thoải mái rồi thì có thể trở lại an trú quán Thân, Tỉnh giác.

Lưu ý: Cần dành nhiều thời gian để quán Tưởng thức ghi nhận cảm giác pháp trần, tuệ tri sâu sắc về Tưởng thức và cảm giác pháp trần →  Để ứng dụng trong tiến trình chết. Đặc biệt nếu như còn tái sanh thì nhớ được điều này trong đời sống hóa sanh.

THIỀN ĐỨNG & THIỀN HÀNH

Thực hành quán các Tâm ghi nhận theo nhịp thở (thiền đứng) hoặc theo nhịp bước (thiền hành), rồi quán duyên khởi các Tâm ghi nhận đó.

THIỀN NẰM

Thực hành quán Tâm nơi Tâm theo nhịp thở: Quán các Tâm hành Chú tâm, Tích cực, Vui, Thoải mái và Tâm hành Chánh niệm.

TRONG ĐỜI SỐNG

Luôn nhớ đến ngậm chặt răng lưỡi và duy trì chú tâm răng lưỡi một cách tự nhiên. Khi duy trì liên tục chú tâm cảm giác răng lưỡi thì chú tâm liên tục cảm giác toàn thân tự động khởi lên, lúc đó là có thể vào định Sơ thiền trong sinh hoạt. Có thể quán sát được tâm hành Tích cực, Vui, Thoải mái khi ở Sơ thiền như vậy.

TỔNG KẾT CÁC ĐỀ MỤC NIỆM TÂM

Thực hành Niệm Tâm là nhớ đến tích cực chú tâm quán sát Tâm nơi Tâm, để nhiếp phục tham ưu ở đời và kinh nghiệm kết quả xẩy ra, đồng tời TUỆ TRI các kết quả đó.

Cụ thể:Thực hành niệm Tâm - tổng kết

Xem thêm các bài viết liên quan về Tứ Niệm Xứ:

Đinh Hương tổng hợp và biên tập từ các bài giảng của Thiền Sư Nguyên Tuệ

 

Trả lời