THẤT THÁNH TÀI HAY BẢY TÀI SẢN CỦA BẬC THÁNH

Thất Thánh tài là bảy tài sản của bậc Thánh. Trong Phật giáo có bậc Thánh vô học đạo tức bậc Thánh A-la-hán và bậc Thánh hữu học đạo bao gồm: Bậc Thánh Nhập Lưu, Nhất Lai và Bất Lai. Thất Thánh tài là bảy tài sản thuộc về bậc Thánh hữu học. Đối với bậc Thánh hữu học tại gia gồm: Tín – Giới – Tàm – Quý – Văn – Thí – Tuệ. Đối với bậc Thánh hữu học xuất gia gồm: Tín – Giới – Tàm – Quý – Văn – Tinh Tấn – Trí Tuệ. Tuy nhiên kẻ phàm phu cũng có Tín Giới Tàm Quý Văn Thí và hiểu biết nhưng đó không phải là tài sản của bậc Thánh, không phải là những thứ quý báu, vì nó không phải là hành trang của Hành Giả trên con đường Giác Ngộ. Vậy thì Tín Giới Tàm Quý Văn Thí Tuệ của bậc Thánh khác nhau với Tín Giới Tàm Quý Văn Thí Hiểu biết của phàm phu như thế nào?

1 – Tín tài sản của bậc Thánh:

Đó là đức tin do có hiểu biết đúng như thật về Đức Phật, về Giáo Pháp, về chư Tăng mà khởi lên. Đức tin đó gọi là Chánh Tín bao gồm:

  • Chánh tín về Phật: Đức Phật là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
  • Chánh tín về Pháp: Pháp mà Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng là Thiết thực hiện tại, Đến để mà thấy, Không có thời gian, Có tính hướng thượng, Cho người trí tự mình giác hiểu.
  • Chánh tín về Tăng: Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, Chân chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn nghĩa là có bốn đôi và tám bậc. Chúng Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn đáng được lễ bái, đáng được chắp tay, đáng được cúng dường, là phước điền vô thượng ở đời. Một người nếu có đầy đủ ba loại chánh tín như vậy, thì người đó là một bậc Thánh nhập lưu. Trong Tương ưng bộ kinh thuộc văn hệ Pali có khẳng định: Một người có Chánh tín về Phật, về Pháp, về Tăng như vậy, nếu muốn người ấy có thể tự tuyên bố về minh: Ta đã là bậc Thánh nhập lưu, không còn đoạ lạc vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục, ta chỉ còn tái sinh trong cõi trời và cõi người tối đa là bảy lần nữa thì sẽ giác ngộ. Tín, tài sản của bậc Thánh là như vậy, nó khác hẳn với Tín của người Phật tử còn phàm phu. Người Phật tử còn phàm phu cũng có Đức tin về Phật, về Pháp, về Tăng nhưng là đức tin phát sanh do hiểu biết sai lạc về Phật ,về Pháp, về Tăng, xem Phật như là một đấng thần linh có quyền ban vui giáng hoạ, xem Tam bảo như một đối tượng để cầu xin, van vái, mặc cả, tụng kinh, sám hối với mục đích để hết bệnh tật, để có tài lộc dồi dào, để công việc làm ăn được hanh thông v.v.. Đức tin như vậy gọi là Mê tín.

2 – Tài sản thứ hai của bậc Thánh là giới:

Bậc Thánh hay người Phật tử còn phàm phu cũng thọ trì và thực hành các học giới (có thể là Năm giới, Tám giới, Mười giới hay giới của Tỷ kheo) nhưng bậc Thánh thọ trì và thực hành các học giới với Trí tuệ tức với hiểu biết: sự thực hành giới là tạo duyên cho Chánh Niệm khởi lên và khi Chánh Niệm khởi lên thì lộ trình tâm Bát Chánh Đạo sẽ khởi lên theo định luật Duyên Khởi. Và chỉ lộ trình tâm Bát Chánh Đạo mới đoạn trừ tham, đoạn trừ sân, đoạn trừ si. Bậc Thánh thực hành các học giới với mục đích đoạn trừ Tham Sân Si. Kẻ phàm phu tuy cũng thực hành các học giới nhưng với mục đích để có được mạnh khoẻ, sống lâu, vô bệnh, để được giàu có, thành đạt, danh tiếng, để sau khi chết được sinh cõi trời, để không bị đoạ địa ngục… hoặc thực hành với sự chấp thủ giới và biến giới luật vốn là phương tiện để đoạn tận Tham, đoạn tận Sân, đoạn tân Si thành giới cấm thủ.

3 – Tài sản thứ ba của bậc Thánh là Tàm:

Tàm là thuật ngữ Phật học tiếng Hán và nếu hiểu theo nghĩa tiếng Việt thì Tàm là xấu hổ hay hổ thẹn.

4 – Tài sản thứ tư của bậc Thánh là Quý:

Quý theo nghĩa tiếng Việt là sợ hãi. Tàm và Quý là hổ thẹn và sợ hãi sẽ được thuyết minh chung vì ý nghĩa hai phẩm tánh này cũng gần giống nhau. Kẻ phàm phu cũng có Tàm và Quý và nó khởi lên liên tục nhưng tàm quý của kẻ phàm phu không phải là thứ tài sản đáng quý bởi cái hổ thẹn và sợ hãi đó khởi lên do Tham Sân Si. Khi mặc một cái áo rách ra đường cũng hổ thẹn, gia cảnh nghèo hèn cũng hổ thẹn, cha mẹ xuất thân nghèo nàn cũng hổ thẹn, thua kém người khác cũng hổ thẹn, ăn cắp bị bắt quả tang cũng hổ thẹn, ngoại tình bị bắt quả tang cũng hổ thẹn, mất chức cũng hổ thẹn… Sợ hãi thì vô biên không kể xiết: sợ gió mưa bão lụt, sợ bệnh tật, sợ chết, sợ mất tài sản, sợ mất danh tiếng, sợ chiến tranh, sợ cãi cọ gây gỗ v.v.. Hổ thẹn và sợ hãi của kẻ phàm phu chất chồng đau khổ, nó từ Tham Sân Si mà khởi lên và nó lại làm cho Tham Sân Si tăng trưởng. Bậc Thánh hữu học đang tu tập Bát Chánh Đạo để đoạn trừ Tham Sân Si nhưng chưa đạt được mục đích như các bậc A-la-hán, nên khi không có Chánh Niệm thì Tà Niệm khởi lên, lúc đó lộ trình tâm Bát Tà Đạo sẽ khởi lên theo định luật duyên khởi và lúc đó Tham Sân Si sẽ khởi lên. Lúc có Chánh Niệm trở lại bậc Thánh sẽ hổ thẹn và sợ hãi vì đã dễ duôi nên bị Tham Sân Si chi phối. Một vị xuất gia là bậc Thánh hữu học khi bị Tham Sân Si chi phối, lúc có Chánh Niệm trở lại, vị ấy sẽ thốt lên: Thật đáng hổ thẹn cho ta, thật đáng ghê sợ cho ta, thật khốn nạn cho ta, ta xuất gia từ bỏ gia đình, tài sản, sống không gia đình, không tài sản để đoạn trừ Tham, để đoạn trừ Sân, để đoạn trừ Si, để có thể chấm dứt khổ đau nhưng tham vẫn xâm chiếm tâm ta, sân vẫn xâm chiếm tâm ta, si vẫn xâm chiếm tâm ta, Dục tầm, Sân tầm, Hại tầm vẫn xâm chiếm tâm ta, thật là khốn nạn cho ta, thật là đau đớn cho ta. Tàm Quý khi bị Tham Sân Si chi phối mới là Tàm Quý của bậc Thánh, nó là tài sản đáng quý, là hành trang trên con đường giác ngộ. Bậc Thánh có tàm quý khi bị Tham Sân Si chi phối vì các vị đã có hiểu biết đúng như thật về Tham Sân Si (Tuệ tri Tham Sân Si), biết như thật Tham Sân Si là nguyên nhân phát sinh đau khổ. Kẻ phàm phu không tuệ tri Tham sân si, không biết Tham sân si là nhân phát sinh đau khổ mà hiểu biết sai lạc rằng tham sân si đưa đến thành công, đưa đến lợi lộc, đưa đến giàu sang, đưa đến hạnh phúc v.v.. nên khi bị tham sân si chi phối đã không có Tàm Quý mà còn tán thưởng nên bị Tham Sân Si cuốn trôi trong khổ đau và luân hồi sinh tử. Kẻ phàm phu hiểu biết rằng nếu không có yêu thích Sắc đẹp, Tiếng hay, Hương thơm, Vị ngon, Xúc chạm êm ái, tức không có Dục ái thì lấy đâu ra lý tưởng, lấy đâu ra động lực để mà làm giàu, để mà phát minh ra thứ này, thứ kia, để mà tích luỹ thứ này, thứ kia, để mà tận hưởng được niềm vui, hạnh phúc lạc thú. Nếu không có Dục ái tức Tham ái dục lạc thì xã hội sẽ ngừng lại, sẽ không còn phát triển. Nếu không có Tham ái sự sống, sự hiện hữu gọi là Hữu ái thì không còn khao khát sống, không có nỗ lực cố gắng để vượt qua mọi cay đắng gian truân của cuộc mưu sinh, không có động lực để nghiên cứu phát minh ra các loại thuốc chữa trị các căn bệnh của loài người. Nếu không có Sân thì sẽ không có được những nỗ lực cố gắng, không có được những hành động quyết liệt để giành giật lấy những niềm vui, hạnh phúc, lạc thú, để bảo vệ được những niềm vui hạnh phúc lạc thú đã có… Có những ông bố, bà mẹ khi đứa con vừa khóc vừa mếu máo: “tụi kia nó đánh con, nó chửi con” thì quát lên: “sao mày ngu thế, nó chửi mày mà mày không có miệng chửi lại nó à, nó đánh mày mà mày không có tay để đánh lại nó à?” Chính những hiểu biết này về Tham Sân Si được lưu giữ trong kho chứa tri thức hiểu biết của nhân loại và khi lộ trình tâm Bát tà đạo của phàm phu khởi lên, hiểu biết Vô minh đó được khởi lên và chi phối đời sống của kẻ phàm phu. Hiểu biết không đúng sự thật về Tham Sân Si như vậy gọi là Vô Minh và nó là tấm màn che, che không cho kẻ phàm phu thấy được sự thật Tham Sân Si là nhân phát sinh đau khổ. Quả thật cái sự thật này (tham sân si là nhân phát sinh đau khổ) là pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt qua mọi tư duy lý luận suông, tế nhị chỉ người trí mới có khả năng giác hiểu. Chính vì vậy mà Tàm và Quý của bậc Thánh và phàm phu khác nhau là vậy.

5 – Tài sản thứ năm của bậc Thánh là Văn:

Được gọi là Thanh Văn theo nghĩa tiếng Việt là nghe âm thanh của Phật, hoặc nghe giảng, hoặc đọc lời giảng dạy của Phật còn lưu truyền qua kinh điển. Bậc Thánh nghe nhiều, hiểu rộng nhưng sự nghe nhiều, hiểu rộng chỉ dừng lại trong phạm vi Giáo Pháp. Bốn mươi lăm năm thuyết pháp Đức Phật chỉ nói về Lý Duyên Khởi và Tứ Thánh Đế theo các cách thức và các khía cạnh khác nhau mà thôi, mà tóm tắt lại là: Đức Phật chỉ nói về Sự thật Khổ và Sự thật chấm dứt Khổ. Nghe nhiều hiểu rộng về Giáo Pháp là tài sản, là hành trang của bậc Thánh đưa đến sự thực hành, đưa đến lối sống của bậc Thánh. Ví như nếu không nghe nhiều, hiểu rộng thì sẽ không biết đến những câu này trong Tăng Chi bộ kinh: Đây là than khóc trong giới luật bậc Thánh, tức là ca hát ngâm vịnh, đây là điên loạn trong giới luật bậc Thánh tức là nhảy múa, đây là trẻ con trong giới luật bậc Thánh tức là cười hô hố, cười ha hả, cười để lộ cả hai hàm răng và sẽ không có Tàm Quý khi mắc phải các lỗi lầm này. Bậc Thánh nhờ nghe nhiều hiểu rộng nên khi lỡ phạm những điều này thì Tàm Quý sẽ khởi lên và chắc chắn lỗi lầm ấy sẽ được đoạn tận trong tương lai. Nghe nhiều hiểu rộng của bậc Thánh là tài sản quý báu vì nó sẽ đưa đến đoạn tận Tham Sân Si. Kẽ phàm phu cũng nghe nhiều hiểu rộng, kiến thức họ cũng rất uyên thâm và uyên bác nhưng cái kiến thức uyên thâm và uyên bác ấy lại là nhân cho sự chấp thủ Bản ngã và chỉ làm tăng trưởng Tham Sân Si mà thôi.

6 – Tài sản thứ sáu của bậc Thánh là Bố thí đối với tại gia và Tinh Tấn đối với xuất gia:

Người Phật tử tại gia còn phàm phu họ cũng thực hành bố thí nhưng hành vi bố thí của họ có thể với tài sản rất lớn nhưng đó không phải là tài sản đáng quý của bậc Thánh vì kẻ phàm phu bố thí với tâm trói buộc, với tâm mong cầu về phước báo, bố thí với ý nghĩ ta và thân nhân của ta sẽ hưởng thọ kết quả trong đời này hoặc đời sau. Bố thí như vậy không phải không có kết quả, nhưng kết quả bố thí với tâm như vậy thuộc về hữu lậu, thuộc phước báo đưa đến quả sanh y. Người đó có thể được mạnh khoẻ, sống lâu, giàu sang, phú quý… nhưng cũng chỉ ở trong luân hồi sinh tử, chỉ đổi cái khổ này lấy cái khổ khác, chỉ quanh quẩn nơi khổ mà thôi. Bậc Thánh tại gia bố thí với tâm không trói buộc, với tâm không mong cầu về phước báo, bố thí không với ý nghĩ ta và thân nhân ta sẽ hưởng thọ kết quả trong đời này hoặc đời sau mà bố thí với tâm buông xả, bố thí để đoạn trừ Tham Sân Si. Bố thí như vậy không phải không có kết quả nhưng kết quả này thuộc vô lậu, thuộc siêu thế, thuộc đạo chi (thuộc chi phần của Bát Chánh Đạo). Bố thí như vậy mới là tài sản đáng quý thuộc bậc Thánh. Bậc Thánh hữu học xuất gia có sự tinh tấn tu tập Bát Chánh Đạo. Sự tinh tấn này làm cho Bát Chánh Đạo khởi lên và nhiếp phục không cho Bát Tà Đạo khởi lên. Điều này đồng nghĩa với tinh tấn để ngăn điều ác không cho khởi lên, điều ác đã khởi lên được diệt trừ khi bát Tà Đạo được nhiếp phục và tinh tấn khởi lên điều thiện chưa khởi, tăng trưởng điều thiện đã khởi lên khi Bát Chánh Đạo được tu tập, cũng đồng nghĩa với tinh tấn đoạn trừ Tham Sân Si. Kẻ phàm phu cũng có tinh tấn nhưng tinh tấn đó do Tham Sân Si mà khởi lên. Ví như có rất nhiều người có được tinh tấn cao, hành thiền liên tục với mục đích có được thần thông, hoặc mục đích chữa được bệnh tật để sống lâu…

7 – Tài sản thứ bảy của bậc Thánh là Trí Tuệ:

Trí tuệ là hiểu biết đúng như thật các sự vật, hiện tượng (gọi là các pháp), liễu tri các pháp, còn được gọi là Minh hay Chánh Tri Kiến, trái ngược với hiểu biết của nhân loại là hiểu biết không đúng như thật các pháp, gọi là không liễu tri các pháp còn được gọi là Vô Minh hay Tà Tri Kiến. Ví như thấy quả ớt thì kẻ phàm phu khởi lên hiểu biết: quả ớt này cay. Với hiểu biết này, “cay” là một pháp, cay là vật chất, cay sẵn có, thường xuyên có nơi quả ớt, cay thường hằng, thường trú nơi quả ớt, cay là của quả ớt. Như vậy đối tượng được biết, được nhận thức cay là vật chất, thường hằng thường trú và hữu chủ (quả ớt là chủ nhân của cay). Bậc Thánh có Trí Tuệ, liễu tri Lý Duyên Khởi có hiểu biết đúng sự thật về cay như sau: Quả ớt là một nhân và lưỡi là nhân thứ hai. Có đủ hai nhân đó nhưng chưa có sự tiếp xúc thì chưa có “cay” nào phát sinh cả. Khi hai nhân Căn và Trần tức Lưỡi và Quả ớt tiếp xúc với nhau thì lập tức phát sinh “cay”. Đây là cay thật mà Thánh hay Phàm đều cảm nhận được, và “cay” này là Cảm giác hay theo thuật ngữ Phật học là Cảm thọ, nó thuộc phạm trù Tâm chứ không phải Vật. Xúc sanh Cảm giác cay sanh, Xúc diệt Cảm giác cay diệt. Cảm giác cay sinh lên rồi diệt đi theo duyên Xúc, nó Vô thường, không sẵn có, không luôn luôn có, không thường hằng, không thường trú nơi quả ớt. Cảm giác cay do lưỡi và quả ớt tiếp xúc mà sinh ra nên lưỡi và quả ớt không phải là chủ nhân, chủ sở hữu của Cảm giác cay. Cảm giác cay là Vô chủ cũng có nghĩa là Vô ngã (không có cái Ta chủ nhân, chủ sở hữu cảm giác cay). Hiểu biết về cay của nhân loại là không đúng với sự thật, là Vô minh, điên đảo, tà kiến và cũng hiểu biết tương tự như vậy với tất cả các sự vật hiện tượng trong đời sống hàng ngày đặc biệt là hiểu biết vô minh, điên đảo, tà kiến về Khổ Tập Diệt Đạo. Hiểu biết vô minh, điên đảo, tà kiến này phát sinh trên vô minh gốc là Tâm biết Cảnh (cái biết là Tâm và đối tượng được biết Cảnh: Sắc Thanh Hương Vị Xúc Pháp trần) với nội dung Thường kiến và Ngã kiến. Tri thức nhân loại cho dù sâu rộng bao nhiêu thì cũng chỉ là vô minh, điên đảo, chấp Thường, chấp Ngã mà thôi. Những sự việc hàng ngày cuộc sống như “cay” mà còn không biết đúng sự thật, mà còn biết một cách điên đảo huống chi những thứ không tiếp xúc trực tiếp được thì còn điên đảo ở mức độ nào? Trí tuệ của bậc Thánh gồm ba cấp độ: trí tuệ do nghe giảng hay đọc kinh điển mà có được gọi là Văn Tuệ, bao gồm hiểu biết như thật về Lý Duyên khởi, về Vô thường, về Vô ngã, hiểu biết như thật về Khổ Tập Diệt Đạo. Trí tuệ do tư duy về những điều đã học gọi là Tư Tuệ. Trí Tuệ khởi lên (tức những hiểu biết như thật đã được học, đã tư duy) khi thực hành Bát Chánh Đạo gọi là Tu Tuệ và chính Tu Tuệ đưa đến chứng ngộ và an trú Tuệ Giải Thoát. Trí Tuệ này được tu tập, được làm cho viên mãn mới xoá bỏ hoàn toàn Vô Minh đưa đến quả vị A-la-hán. Một người Phật tử tại gia hoặc xuất gia có thể suy xét một cách thận trọng và tự thấy tự biết mình có đầy đủ hay chưa có Thất Thánh tài và có thể tự biết mình đã là bậc Thánh hay chưa. Nếu đã có Thất Thánh tài hãy hoan hỷ trong sự tu tập để có được giải thoát tối hậu, nếu chưa hãy nỗ lực trong Pháp học và Pháp hành để có được Thất Thánh tài.

(Tỷ Kheo Nguyên Tuệ – Vô minh và Minh, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, năm 2016, trang 122 – 131)

You may also like...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *