Câu 2: Có thể dựa vào căn tánh của từng người mà có cách tu tập khác nhau không?
Căn tánh của một người là gì? Làm sao để nhận diện căn tánh của từng người? Và có thể dựa vào căn tánh để có phương pháp hành thiền cho phù hợp không?
Trả lời:
Căn tánh của một người, nếu quý vị hiểu, thì nó quyết định bởi thông tin pháp trần ở trong bộ nhớ ở ADN của người đó. Khi lộ trình tâm khởi lên thì nó sử dụng các thông tin đó, cho nên gọi là tính tình của người này, hay tính tình của người khác v.v… thì phụ thuộc vào lượng thông tin pháp trần đã được lưu giữ ở trong bộ nhớ đó. Toàn bộ lượng thông tin pháp trần quyết định tính cách của một người, ham mê của một người, suy nghĩ của một người – tất cả đều do lượng thông tin pháp trần trong bộ nhớ.
Tuy rằng lượng thông tin pháp trần trong bộ nhớ của con người rất khác nhau nhưng vẫn chia làm hai phần: phần đặc tính chung và đặc tính riêng. Ở đây chúng ta nghiên cứu tính chất chung, tức là tính quy luật, tính phổ quát, nó đúng cho tất cả mọi người, đúng cho tất cả mọi lúc, mọi nơi. Giáo lý của Đức Phật ở đây là Tứ Thánh Đế, nghiên cứu về quy luật chung, đặc tính chung mang tính phổ quát. Vì vậy, quý vị sẽ thấy rằng tu tập không phụ thuộc vào căn tánh nào cả. Căn tánh nào, cho dù khác nhau phần đặc tính riêng nhưng phần chung nhất thì giống nhau, cho nên tu tập là giống nhau dựa trên quy luật chung.
Quy luật chung đó là: nguyên nhân khổ là do tham, do sân, do si. Có thể tham, sân, si của người này khác một chút với người khác nhưng đặc tính chung, tính phổ quát đều do tham, do sân, do si. Cho nên quy luật chung: khổ diệt là khi tham, sân, si diệt, và vì vậy con đường khổ diệt là Bát Chánh Đạo chung cho tất cả mọi người, không phải là người này khác với người kia. Cho nên, quý vị thấy Tứ Niệm Xứ – tu tập bốn loại Chánh Niệm – là quy luật chung cho tất cả mọi người, không phụ thuộc vào căn tánh này hay căn tánh kia.
Có nhiều luận giải sau này cho rằng người căn tánh tham thì tu khác, người căn tánh sân tu khác, người căn tánh si tu khác. Đó là những diễn giải sai, là của chú giải sau này, còn Giáo Pháp này chỉ nghiên cứu thực hành trên quy luật phổ quát, quy luật chung cho tất cả mọi người. Đó là:
Thứ nhất, khổ do Duyên khởi. Cho dù căn tánh người này hay người khác thì sự thật về khổ vẫn do Duyên khởi, khổ thuộc về nội tâm, khổ là do Duyên khởi;
Thứ hai, nguyên nhân của khổ là Vô minh, là tham, sân, si;
Thứ ba, phổ quát về khổ diệt: khi tham, sân, si diệt thì khổ diệt;
Thứ tư, cũng có tính phổ quát: con đường khổ diệt là Bát Chánh Đạo.
Tứ Thánh Đế là quy luật phổ quát đúng cho tất cả mọi người không phụ thuộc căn tánh của người này hay căn tánh của người kia. Vì vậy, tu hành là tu hành Bát Chánh Đạo, không phụ thuộc vào căn tánh nào cả, nó có tính phổ quát. Tu tập là tu tập Bát Chánh Đạo, tu tập Tứ Niệm Xứ, và cụ thể hơn là 37 chi phần của Đạo đế mà quý vị đã nghe, đều là Bát Chánh Đạo cả. Tất cả mọi người chỉ khác nhau phần đặc tính riêng thôi, còn tính chất chung, phổ quát thì đều giống nhau, và chúng ta thực hành dựa trên cái phổ quát đó.
Có một hiểu lầm nói rằng Đức Phật là bậc đại lương y, tùy theo bệnh mà cho thuốc. Không có chuyện đó! Tất cả chúng sanh có bệnh khổ, nguyên nhân của bệnh khổ là tham, sân, si, cho nên Đức Phật chỉ cho một loại thuốc duy nhất để chữa hết bệnh khổ đó là Bát Chánh Đạo, là Tứ Niệm Xứ. Chứ không phải loại chúng sinh này thì cho thuốc Bát Chánh Đạo, chúng sinh kia thì cho 10 đạo hay 20 đạo – không có đạo nào khác cả, chỉ có Bát Chánh Đạo là duy nhất. Cho nên, không phải tùy bệnh mà cho thuốc.
Chúng ta hiểu Đức Phật giác ngộ là giác ngộ tính phổ quát. Định luật phổ quát là đúng cho tất cả mọi người, đúng cho tất cả mọi nơi, đúng cho tất cả mọi lúc. Đặc điểm thứ ba của Giáo Pháp là không bị chi phối bởi thời gian là như vậy, nó có tính phổ quát: không phải là đúng cho chỗ này, không đúng cho chỗ kia, đúng cho lúc này, không đúng cho lúc kia. Cho nên, có giải thích là thời Mạt Pháp này thì phải tu khác, thời Tượng Pháp phải tu khác, thời Giáo Pháp phải tu khác, nghĩa là cái tu đó phụ thuộc vào thời gian, không có tính phổ quát. Cho dù là quá khứ, cho dù là hiện tại, cho dù là vị lai thì sự tu tập chỉ có một cách duy nhất là tu tập Bát Chánh Đạo, mà nói gọn lại là tu tập Tứ Niệm Xứ.

