Sự phát triển của đời sống trong giáo lý đạo Phật nằm ở chỗ nào?

Sự phát triển của đời sống trong giáo lý đạo Phật nằm ở chỗ nào?

Hỏi: Trên con đường học bát chánh đạo con chưa thấy rõ ràng về sự phát triển của đời sống nhân loại. Sự phát triển trong giáo lý đạo Phật nằm ở chỗ nào? Làm thế nào để duy trì được tâm niệm thực hiện sứ mệnh: mình phát triển tốt lên thì mình có thể giúp đỡ người khác không dựa trên tham sân mà trên thực lòng, thực tâm của mình góp phần giúp xã hội phát triển lên?

Trả lời từ thiền sư:

Vấn đề thứ nhất là phát triển. Rất nhiều người thắc mắc sau khi nghe tôi giảng họ nói rằng “ nếu như vậy thì lối sống này sẽ không đưa đến thế giới này phát triển”. Thế giới này đang phát triển từ lạc hậu đến văn minh, từ tối tăm đến sáng sủa, từ nghèo đói sang giàu có. Mọi người hiểu sự phát triển là như vậy.

Nếu quý vị nghe từ đầu đến cuối rồi xâu chuỗi lại có một sự thống nhất đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối mà tôi đã vạch ra sự thật, không có mâu thuẫn chút nào là mục đích đời sống của con người chỉ có mục đích duy nhất là chấm dứt khổ. Thế giới đã phát triển mấy ngàn năm qua từ lạc hậu, tăm tối, đói nghèo sang sáng sủa, tân tiến, giàu có nhưng con người chỉ đổi từ khổ này lấy khổ khác mà thôi, có bao giờ hết khổ đâu.

Vậy thì sự phát triển của xã hội, khoa học… không giúp cho con người đạt đến mục đích của mình. Có thể bây giờ quý vị quan sát thấy khoa học ngày nay phát triển rất ghê gớm và khoa học có thể làm được tất cả những gì mà con người muốn.

Nhưng cho dù khoa học làm được tất cả gì họ muốn nhưng quý vị suy xét cho cùng mục đích tối hậu khoa học cũng chỉ muốn cho con người hết khổ. Sự thực sự phát triển như vậy chỉ đổi khổ này lấy khổ khác mà thôi, không bao giờ chấm dứt được khổ cả.

Mục đích của con người là chấm dứt khổ và mọi người đang làm mọi việc để chấm dứt khổ, hướng đến mục đích tối hậu đó. Nhưng đều không đạt được mục đích, đều chỉ đổi khổ này lấy khổ khác mà thôi, đều chỉ là liều thuốc giảm đau thôi. Còn chỉ có con đường bát chánh đạo này mới đưa đến đích tối hậu của con người là chấm dứt khổ.

Vì vậy, đạo Phật này đi ngược lại mọi hiểu biết, xu hướng của cuộc đời. Nếu quý vị dung hòa, lấy bát chánh đạo này để phát triển cuộc đời như vậy thì không thể được. Cuộc đời thế gian nhằm phát triển, nhằm tồn tại, nhằm cho tương lai để hiện hữu vĩnh hằng, cuộc sống trường tồn.

Nếu nghiên cứu cuộc sống trên quả đất này bị đe dọa thì phải tìm một chỗ khác để di chuyển. Quý vị thấy rồi, mục đích của bát chánh đạo này để chết thôi. Cho nên nó ngược.

Câu hỏi thứ hai là sứ mệnh. Có thể tìm thấy sứ mệnh trong Phật giáo không? Nếu quý vị quan sát cách thô thì thấy rằng sứ mệnh của con người là dựa trên hiểu biết một tư tưởng chấp ngã.

Sứ mệnh mình là phải cải tạo thế giới, phải thay đổi con người, làm cho thế giới hòa bình chúng sinh an lạc, sứ mệnh mình là làm cho tất cả chúng sinh thành Phật thì mình mới thành Phật.

Thứ nhất, tư tưởng đó là tư tưởng thay đổi thế giới. Muốn làm cho mọi người thay đổi, thế giới này thay đổi có phải là tâm biết cảnh không? Dựa trên hiểu biết khổ tập diệt đạo ở nơi ngoại cảnh cho nên thay đổi ngoại cảnh.

Thứ hai, sứ mệnh của tôi là phải thay đổi thế giới, cải tạo thế giới này từ xấu sang tốt, cải tạo con người này từ xấu sang tốt. Tôi có thể làm được điều đó, tôi có thể độ được mọi người, phải phát nguyện độ hết tất cả mọi người thành Phật thì đó là tư tưởng làm chủ, tư tưởng điều khiển. Cho nên những cái đó cũng xen vào Phật giáo nhưng đó là đạo Phật tôn giáo của những người sau còn Đức Phật không có những cái đó.

Một bậc đã giác ngộ vô ngã, biết rằng tất cả là vô chủ vô sở hữu, tất cả là tương tác thôi. Cho nên đối với một người giác ngộ không bao giờ có ý nghĩ là mình phải thay đổi được mọi người, làm cho mọi người thay đổi hay điều mình chứng ngộ rất cao vời mình phải truyền lại cho người khác.

Những người giác ngộ rồi thì biết rằng những điều này mình nói ra có thể có người tiếp thu hoặc không tiếp thu. Giả sử không có ai trên thế gian này tiếp thu được cái này cũng không sao cả, không ràng buộc vào kết quả phải truyền lại cái này cho đời sau, phải có người tiếp nối.

Không có ý nghĩ đó bởi vì không còn ràng buộc vào kết quả, không còn chấp vào những thành quả đó là ta, của ta; không còn chấp thủ. Những người giác ngộ hiểu rằng lý duyên khởi là hai nhân tương tác với nhau. Mà hai nhân tương tác với nhau tùy thuộc vào thông tin trong bộ nhớ. Lượng thông tin của vị đó tương tác với người kia, tương hợp mới tương tác.

Nhưng tương tác xảy ra 2 kết quả theo chiều ngược nhau: một là tương tác tốt, hai là kết quả xấu. Biết rõ như vậy thì đâu có kết quả tốt thì vui mừng, kết quả xấu thì buồn nữa. Cho nên kết quả như thế nào vị đó cũng bình thản, không còn thích hay ghét, truyền bá được hay không truyền bá được, không còn khởi lên tư tưởng sứ mệnh.

Nhiều người hiện nay xưng thế này thế kia đều thể hiên sứ mệnh cả. Sứ mệnh đó là biểu hiện của chấp ngã. Cho nên người giác ngộ không có sứ mệnh nào cả. Một người giác ngộ đi đến đích, đích đó học cảm nhận là khổ đã được chấm dứt, đoạn tận. Khi đã biết đúng sự thật khổ đã chấm dứt thì vị đó không quan tâm tới bất kỳ một chuyện gì ở trên đời nữa.

Cho dù thế giới này là vuông hay tròn, dài hay ngắn… vị đó không quan tâm. Hết khổ rồi nên có cần gì nữa, vì khổ nên mới cần cái làm cho mình hết khổ. Còn hết khổ thuộc nội tâm thì không cần bất kỳ cái gì nữa cả. Đức Phật không phải giác ngộ về thế giới. Khi khổ đã chấm dứt thì thấy rằng không có trách nhiệm, ràng buộc vào bất kỳ cái gì trên đời.

Vị đó cảm nhận là bây giờ mình đạt được đích này rồi, vẫn có ý muốn chia sẻ với người khác rất tự nhiên. Giống như có vùng hạn hán khô cằn mấy tháng liền, nước uống cạn hết, các dòng sông, dòng suối cạn hết. Người ta đói khát lả ra từng đoàn người, may mắn cho vị đó vào trong rừng núi tìm ra hang có nguồn nước vô tận, uống no nê, khỏe mạnh rồi.

Đương nhiên vị đó sẽ về và nói với mọi người vào trong đó uống, nó vô tận, hết khát ngay. Tương tự, người giác ngộ đã đạt đến đích chấm dứt khổ thì cũng muốn chia sẻ. Đương nhiên có những người không có khả năng chia sẻ, là các vị Độc giác. Còn vị nào có khả năng chia sẻ thì họ đều muốn chia sẻ.

Nhưng họ đã giác ngộ lý duyên khởi, biết rằng vô chủ vô sở hữu nên không còn áp đặt, thuyết phục. Ai có duyên thì chia sẻ. người ta nghe cũng bình thản mà người ta chê bai, phản bác cũng bình thản; không ràng buộc vào kết quả nữa. Chữ sứ mệnh đó vẫn nằm trên tà kiến, vô minh thôi.

Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận