TUỆ TRI VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ ĐỂ LÀM GÌ?

TUỆ TRI VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ ĐỂ LÀM GÌ?
Trong giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni, tuệ tri Vô thường và Vô ngã không phải để thỏa mãn trí thức, cũng không phải để xây dựng một hệ thống triết học. Mục đích duy nhất là đoạn tận vô minh, chấm dứt khổ đau.

Vậy tuệ tri Vô thường, Vô ngã để làm gì?

Để nhổ tận gốc Chấp thường và Chấp ngã – hai tà kiến đang chi phối toàn bộ đời sống nhân loại.

I. Vì sao các pháp đều Vô thường, Vô ngã?

Muốn tuệ tri Vô thường, Vô ngã phải quan sát sự thật về Duyên khởi. Tất cả các sự vật hiện tượng – các pháp Danh và Sắc – đều phát sinh do Duyên. Nghĩa là: Hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mà phát sinh một hay nhiều quả.

*Các pháp không tự có, không tự sinh, không tự tồn tại. Chúng chỉ xuất hiện khi có đủ 2 nhân + duyên. DUYÊN là sự TIẾP XÚC hay sự TƯƠNG TÁC giữa 2 nhân.

*Quan sát sự thật này bằng tư duy quy nạp và diễn dịch trên chính thực tại đang xảy ra là điều kiện cần và đủ để tuệ tri: Các pháp do Duyên mà sinh, cũng do Duyên mà diệt. Trước khi sinh không ở đâu, khi diệt không về đâu. Không thường hằng, không thường trú đâu cả, chỉ xuất hiện một lần duy nhất, không lặp lại

Đó chính là Vô thường.
*Và vì các pháp chỉ là kết quả của duyên, nên: Không có pháp nào là chủ nhân, Không có pháp nào là chủ sở hữu, nên các pháp đều VÔ CHỦ VÔ SỞ HỮU. Điều này đồng nghĩa Không có “Ta” cố định, đồng nhất từ quá khứ – hiện tại – vị lai là chủ nhân chủ sở hữu của thân tâm, nhà cửa, tài sản, danh tiếng ….
Đó chính là Vô ngã.
Tuệ tri Duyên khởi tất yếu đưa đến tuệ tri: Tất cả các pháp đều Vô thường và Vô chủ sở hữu (Vô ngã).

II. Tuệ tri Vô thường để làm gì?

Để đoạn tận Chấp thường (Thường kiến).

1. Biểu hiện của Chấp thường

a. Thường hằng: Cho rằng các pháp không sinh ra không diệt đi mà chỉ biến đổi từ vật này sang vật khác, từ dạng này sang dạng khác, biến mất chỗ này lại xuất hiện chỗ kia:
• Duy vật cho rằng vật chất không sinh ra không diệt đi
• Duy tâm cho rằng linh hồn, thế giới tâm linh không sinh không diệt
Đây là quan niệm sai lầm vì nó phủ nhận Duyên khởi, phủ nhận vô thường.

b. Thường trú: Cho rằng các pháp sẵn có, thường xuyên có: Ngọt thường trú trong đường, Mặn thường trú trong muối, Nóng thường trú trong lửa,Lạnh thường trú trong nước đá …

*Cho rằng: Niềm vui, Đau khổ sẵn có, thường xuyên có trong thế giới ngoại cảnh, trong sắc thanh hương vị xúc. Vì vậy nguyên nhân của Khổ Vui là do thế giới ngoại cảnh và để hết khổ được vui phải thay đổi thế giới ngoại cảnh.
*Chính vì chấp thường nên:
• Yêu thích ổn định
• Khao khát bền vững
• Mong cầu không thay đổi
• Tìm kiếm “an cư lạc nghiệp” vĩnh viễn
*Và cũng vì chấp thường nên:
• Đổ lỗi cho Vô thường là nguyên nhân của khổ
• Cho rằng “vì các pháp vô thường các pháp là khổ”

Trong khi sự thật là: Nguyên nhân của khổ là tham, sân, si, không phải Vô thường.

*Vì chấp thương, không chấp nhận sự thật Vô thường, nên đến lúc vô thường xảy ra – mất mát, chia ly, thay đổi – thì: Sầu Bi Khổ Não liền khởi lên.
*Tuệ tri Vô thường là để thấy rằng: Khổ không do Vô thường, Khổ do chấp thường.

III. Tuệ tri Vô ngã để làm gì? Để đoạn tận Chấp ngã (Ngã kiến).

1. Biểu hiện của Chấp ngã

Con người tin rằng: Có một cái Ta không sinh không diệt, Đồng nhất từ quá khứ đến vị lai, Là chủ nhân của thân tâm, Là chủ sở hữu của nhà cửa, tài sản, gia đình

Từ đó phát sinh mọi nỗ lực: Làm chủ cuộc đời, Làm chủ hạnh phúc, Làm chủ cảm xúc, Làm chủ xã hội,Làm chủ sinh – già – bệnh – chết …. Nhưng sự thật là: Tất cả các pháp đều do Duyên sinh. Đã do Duyên sinh thì vô chủ, vô sở hữu. Cái con người thường gọi là “Ta” chỉ là một tiến trình Danh – Sắc sinh diệt liên tục. Không có thực thể độc lập nào gọi là Ta đứng phía sau làm chủ.

*Chấp ngã là sống trong ảo tưởng: Ảo tưởng làm chủ, Ảo tưởng sở hữu, Ảo tưởng kiểm soát
Đó chính là Vô minh.
Và khi thực tại không vận hành theo ý muốn của “cái Ta ảo tưởng” ấy, xung đột xảy ra. Sự xung đột giữa ảo tưởng và sự thật chính là Khổ.

Tuệ tri Vô ngã để thấy rõ: Không có gì có thể làm chủ. Không có gì có thể sở hữu. Không có cái Ta nào để bị xúc phạm, để bị mất mát, để bị tổn thương.

*Khi không còn ảo tưởng về quyền làm chủ và quyền sở hữu, tham sân si không còn đất đứng.

IV. Tuệ tri Vô thường, Vô ngã để đoạn tận tà kiến

Mục đích tối hậu của tuệ tri Duyên khởi là:
• Đoạn tận Chấp thường (Thường kiến)
• Đoạn tận Chấp ngã (Ngã kiến)

Vì chính các tà kiến này: Phát sinh tham, Phát sinh sân, Phát sinh si, Phát sinh ràng buộc, Phát sinh khổ đau

Việc này không thể làm qua loa mà phải:
• Văn: nghe học chân lý
• Tư: suy tư, quán chiếu trên thực tại
• Tu: thực hành quan sát và tư duy trực tiếp

Phải làm thường xuyên, quyết liệt để Tuệ tri MINH VÀ VÔ MINH. Giống như một cây lớn: Đào tận gốc rễ, Chẻ nhỏ,Đốt thành tro, Rải tro xuống nước. Để cây ấy không bao giờ tái sinh trở lại.

Cũng vậy, phải nhổ tận gốc Thường kiến và Ngã kiến.

KẾT LUẬN:

Tuệ tri Vô thường, Vô ngã không phải để bi quan. Không phải để phủ nhận cuộc đời. Không phải để trốn tránh trách nhiệm. Mà để:
• Thấy đúng sự thật
• Sống thuận với sự thật
• Chấm dứt xung đột với thực tại
• Đoạn tận tham sân si
• Giải thoát khỏi khổ đau

Khi không còn chấp thường, không còn chấp ngã: Tâm không còn ràng buộc. Thực tại vẫn sinh diệt. Nhưng khổ không còn sinh khởi.

Đó chính là ý nghĩa sâu xa của việc tuệ tri Vô thường và Vô ngã.
Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận