Bài 1 – TÍNH CHẤT GIÁO PHÁP
Câu 1: Giáo Pháp của Đức Phật là chân lý phổ quát
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là nhà khoa học, nhà sư phạm vĩ đại. Giáo Pháp Đức Phật để lại Ngài đã nói là rất ít so với những gì Ngài chứng ngộ, và đa phần Ngài thuyết giảng cho các đối tượng cụ thể, căn cơ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau. Vậy nếu con đến để mà thấy thì e rằng con sẽ bỏ qua nhiều điều như thật do căn cơ, tri kiến nông cạn của mình. Mong thiền sư khai ngộ.
Trả lời:
Quý vị phải hiểu rằng Giáo Pháp của Đức Phật là sự thật mà Ngài đã khám phá. Đã là sự thật thì nó mang tính chất phổ quát, phải đúng cho mọi người, đúng cho mọi lúc, mọi nơi. Cho nên, Giáo Pháp này là sự thật phổ quát, đúng cho tất cả mọi người, mọi lúc mọi nơi.
Như vậy, Đức Phật thuyết pháp thì chỉ có duy nhất một kiểu, chứ không phải tùy căn cơ mỗi người mà thuyết pháp khác nhau. Nếu tùy căn cơ: người này nói theo kiểu này, người kia nói theo kiểu khác, thì theo cách nói đó, điều đó hợp với người này mà không hợp với người kia, đúng với người này mà không đúng với người kia. Như vậy, nó không phải là chân lý, không phải là sự thật.
Giáo Pháp của Ngài là chân lý, là sự thật, nó phải mang tính phổ quát, mang tính quy luật, hoàn toàn không tùy căn cơ mà thuyết pháp. Giáo Pháp của Ngài không phải là tùy bệnh mà cho thuốc. Giáo Pháp của Ngài chỉ có một loại thuốc duy nhất đó là Bát Chánh Đạo – chữa lành thứ bệnh gì? Bệnh Khổ.
Giáo Pháp của Ngài là Tứ Thánh Đế – bốn chân lý, bốn sự thật: Thánh Đế về Khổ, Thánh Đế về Khổ Tập, Thánh Đế về Khổ Diệt, và Thánh Đế về Con đường Khổ Diệt. Giáo Pháp của Ngài chung quy chỉ là Tứ Thánh Đế thôi.
Vì sao? Quý vị học bài “Mục đích cuộc sống” thì hiểu rằng, con người, mọi khoa học, mọi tôn giáo phấn đấu nỗ lực đều với mục đích là để chấm dứt khổ. Vậy thì Giáo Pháp của Ngài cũng thiết thực hiện tại, là Ngài chỉ nói đến khổ và chấm dứt khổ. Nếu nói kỹ hơn là nói đến sự thật khổ, sự thật nguyên nhân khổ, sự thật chấm dứt khổ, sự thật về con đường chấm dứt khổ. Cho nên, Giáo Pháp mà Ngài chứng ngộ và thuyết giảng, nói một cách tóm tắt, cốt lõi nhất là khổ và chấm dứt khổ.
Thánh Đế về Khổ được trình bày trong kinh Chuyển Pháp Luân với một câu ngắn gọn: “Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cầu mong mà không được là khổ, oán hận mà gặp nhau là khổ, yêu nhau mà phải xa cách nhau là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.”
Bất kỳ con người nào (già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, ngu, trí, dân tộc hoặc tôn giáo nào) thì hễ khi già đều có khổ, hễ khi bệnh đều có khổ, hễ khi chết đều có khổ, hễ cầu mong điều gì không được thì có khổ, hễ oán hận mà phải chung sống với nhau thì có khổ, hễ yêu thương mà phải xa cách nhau là khổ. Quý vị thấy rằng Giáo Pháp của Phật nói đúng cho tất cả mọi người.
Ví dụ người này đau bụng là khổ, người kia đau răng là khổ, hay người này bị chồng phản bội là khổ, người kia bị mất con là khổ. Những cái khổ đó có ở nơi người này nhưng không có ở nơi người kia. Cho nên, đó chỉ gọi là khổ thôi. Còn Khổ đế – Giáo Pháp của Ngài nói đến quy luật, nói đến chân lý, sự thật về khổ, nó phải đúng cho tất cả mọi người, đúng cho mọi lúc, mọi nơi. Con người bây giờ có bảy cái khổ đó, một triệu năm trước con người cũng có bảy cái khổ đó, và một triệu năm sau con người cũng có bảy cái khổ đó. Người Châu Phi cũng có bảy cái khổ đó, người Việt Nam cũng có bảy cái khổ đó.
Cho nên, những gì Đức Phật thuyết là chân lý, là sự thật, nó phải mang tính phổ quát, phải đúng cho tất cả mọi người, mọi lúc mọi nơi. Vì thế, cái này là chung, chứ không phải Đức Phật tùy căn cơ mỗi người, tùy bệnh mà cho thuốc. Đức Phật không thuyết pháp là vạch ra cái khổ của con người như người này khi đau bụng là khổ như thế nào, hay thuyết pháp cho người kia khi mất vợ mất chồng là khổ như thế nào.
Đức Phật không thuyết pháp cho căn cơ từng người nào mà thuyết pháp theo quy luật chung cho tất cả mọi người, vì chân lý là có tính chất phổ quát.
Quý vị quan sát lộ trình tâm – Năm thủ uẩn là khổ:
Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng > Tà niệm > Tà tư duy > Tà tri kiến > Tham Sân Si > Tà định > Dục > Tà tinh tấn > Phi như lý tác ý > Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng > cuối cùng mới phát sinh Khổ Vui.
Khổ Vui là phát sinh nơi nội tâm, là một quá trình duyên khởi, khởi đầu là Căn – Trần tiếp xúc, rồi các duyên khởi nối tiếp nhau như vậy, cuối cùng mới phát sinh Khổ Vui nơi nội tâm. Điều này đúng cho tất cả mọi người, dù là đứa trẻ mới đẻ ra, người trung niên hay người già, người Hồi giáo hay người Phật giáo, khổ đều phát sinh theo đúng lộ trình tâm, quy luật này. Những gì Đức Phật thuyết pháp đều có tính quy luật như vậy.
Vì thế, quý vị đi sâu vào Giáo Pháp của Đức Phật là Tứ Thánh Đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Nếu tu tập và chứng ngộ, liễu tri Tứ Thánh Đế, quý vị sẽ đạt được mục đích của cuộc đời: chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây.
Quý vị đừng lo sợ rằng Đức Phật chứng ngộ nhiều mà thuyết pháp rất ít, như một số người sau này nói rằng “cái mà ta chứng ngộ thì giống như lá trong rừng, còn cái mà ta thuyết pháp thì như nắm lá trong lòng bàn tay”. Đó là Tà kiến của người sau áp đặt cho Đức Phật, hoàn toàn không phải như vậy.
Câu 2: Giáo Pháp của Đức Thế Tôn có “cứu khổ cho muôn loài” không?
Trả lời:
Pháp của Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không bị chi phối bởi thời gian, có tính chất hướng thượng. Và cuối cùng: chỉ cho người trí tự mình giác ngộ, chứ nó không phải áp dụng cho tất cả mọi người.
Rất nhiều người cho rằng Giáo Pháp của Đức Thế Tôn là “cứu khổ cho muôn loài”. Đó là hiểu biết chung phải không? Thực tế đâu có phải như vậy! Khi Đức Phật chứng ngộ được Giáo Pháp này, Ngài tự thán rằng: “Pháp mà Ta chứng được sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt qua mọi tư duy lý luận suông, chỉ có người trí mới có khả năng giác hiểu. Còn quần chúng này thì ham thích ái dục, ưa thích ái dục, bị ái dục chi phối. Cho nên Lý duyên khởi là một điều rất khó lĩnh hội, và Niết bàn – sự chấm dứt khổ, sự đoạn tận mọi khát ái cũng là một điều hết sức khó lĩnh hội. Và nếu như Ta thuyết Pháp này, mọi người sẽ không hiểu, và như vậy thật là mệt nhọc cho Ta.”
Cho nên Ngài có ý bị động là không thuyết pháp. Có phải Ngài đã tiên lượng rằng người nghe được Giáo Pháp này rất là ít ỏi phải không? Rất là ít ỏi. Sau đó, Ngài mới nghĩ rằng cũng có một số ít người “có ít bụi trong mắt” (trong kinh điển: lời thưa thỉnh của Phạm thiên là có một số người “có ít bụi trong mắt” có thể nghe được Giáo Pháp này. Cho nên: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn thuyết giảng”.)
Quý vị thấy sự thật giáo lý chỉ dành cho một số ít người chứ không phải tất cả. Nó rõ ràng như vậy. Đạo Phật tôn giáo đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, nhưng nó chỉ là liều thuốc giảm đau, xoa dịu nỗi khổ thôi, chứ nó không chữa lành được bệnh khổ này. Đó là đạo Phật tôn giáo phát triển về sau. Còn đạo Phật thật, cái cốt lõi thì chỉ dành cho một số ít người, chỉ dành cho người có trí. Cho nên không phải ai cũng có thể có duyên nghe rồi tiếp xúc được giáo lý này.
Cho dù có rất nhiều tông phái Phật giáo, nhiều cách tu như vậy, nhưng nó đều là tôn giáo cả, đều là đạo Phật tôn giáo, đều là liều thuốc giảm đau. Nó cũng có công hiệu chứ không phải không có công hiệu, nhưng chỉ là thuốc giảm đau thôi chứ không phải là thuốc chữa bệnh. Còn Bát Chánh Đạo mới là thuốc chữa lành bệnh khổ này.
Câu 3: Tại sao trong Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca chỉ có tự lực mà không có tha lực?
Trả lời:
Pháp mà Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng có năm tính chất: Thiết thực hiện tại, Đến để mà thấy, Không bị chi phối bởi thời gian, Có tính hướng thượng, Cho người trí TỰ MÌNH giác ngộ. Vì vậy, trong Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca chỉ có TỰ LỰC chứ không có THA LỰC. Đức Phật chỉ là bậc đạo sư chỉ dạy con đường thoát khổ, mỗi người phải tự đi nếu muốn thoát khổ, Ngài không thể đi thay cho bất kỳ một ai, Ngài không thể làm cho bất kỳ một chúng sanh nào thoát khổ, bởi bản chất vô ngã của các pháp.
Trong chương 1 tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân có câu chuyện, Long Vương sông Kinh được Viên Thủ Thành báo cho sự việc: Long Vương bớt đi ba giọt trong trận mưa sáng nay là đã phạm luật trời và sẽ bị Ngọc Hoàng thượng đế xử chém đầu vào giờ ngọ ba khắc ngày mai. Long Vương đã quỳ xuống xin Viên Thủ Thành cứu mạng, Viên Thủ Thành đã trả lời: TA KHÔNG CỨU ĐƯỢC NGƯƠI NHƯNG TA CÓ THỂ CHỈ CHO NGƯƠI MỘT CON ĐƯỜNG. Đây là câu chuyện ẩn dụ và ẩn dụ câu nói “Ta không cứu được ngươi nhưng có thể chỉ cho ngươi một con đường.” là câu nói của Như Lai với nhân loại. Có nghĩa là: Như Lai không cứu được ai nhưng Ngài chỉ dạy Giáo Pháp để người tu học có thể TỰ CỨU MÌNH.
Và xuyên suốt bộ kinh Nikaya là lời dạy: Hãy tự mình nương tựa nơi chính mình, nương tựa nơi Chánh Pháp, ĐỪNG NƯƠNG TỰA MỘT GÌ KHÁC (kể cả Phật và Tăng). Và thế nào là tự mình nương tựa nơi chính mình, nương tựa nơi Chánh pháp, không nương tựa một gì khác? Đó là người nào sống trú Quán Thân Nơi Thân với Chánh niệm, Nhiệt tâm, Tỉnh giác để nhiếp phục tham ưu ở đời, sống trú Quán Thọ Nơi Thọ…, sống trú Quán Tâm Nơi Tâm…, sống trú Quán Pháp Nơi Pháp với Chánh niệm, Nhiệt tâm, Tỉnh giác để nhiếp phục tham ưu ở đời LÀ TỰ MÌNH NƯƠNG TỰA NƠI CHÍNH MÌNH, nương tựa nơi Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.
Câu 4: Phát nguyện và Cầu nguyện trong Đạo Phật là như thế nào?
Trả lời:
Cầu nguyện tức là dựa vào một tha lực để cho mình đạt được như ý nguyện. Quý vị thấy cầu nguyện, ý nguyện như thế nào thì tối hậu cũng là muốn hết khổ, và cầu nguyện thì hướng đến một năng lực ở bên ngoài làm cho mình hết khổ. Như vậy, hiểu biết cầu nguyện đó chẳng qua là biểu hiện của Vô minh về Khổ – Tập – Diệt – Đạo, khổ từ bên ngoài đến thì bây giờ cầu nguyện bên ngoài để chấm dứt khổ.
Ví dụ: bên Thiên Chúa giáo, họ cho rằng khổ này là do Chúa trừng phạt nên mới cầu với Chúa để cho Chúa bớt trừng phạt đi; hay hiểu biết khổ là do tổ tiên ông bà, mồ mả chưa được cho nên ông bà tổ tiên quá vãng trừng phạt con cái, nên bây giờ cũng phải cầu nguyện.
Khi khởi lên cái ý cầu nguyện để đạt mục đích chấm dứt khổ thì đương nhiên là cái đó xuất phát trên hiểu biết về khổ, nguyên nhân của khổ là từ thế giới bên ngoài mang đến cho mình, cho dù là thế giới vật chất hay là thế giới tâm linh. Nó trái với sự thật: nguyên nhân của khổ là Tham Sân Si thuộc về nội tâm, và muốn chấm dứt khổ thì chỉ có chấm dứt Tham Sân Si mới chấm dứt khổ.
Quy luật nhân quả thì người Phật tử bây giờ hiểu sai, tin nhân quả nhưng tin những cái chuyện không đâu. Còn tin sâu nhân quả mà Phật dạy là gì? Phật chỉ nói đến nhân quả quan trọng nhất là: Tham Sân Si là nhân, quả là khổ, chấm dứt Tham Sân Si là chấm dứt khổ, đó là cái nhân quả quan trọng nhất cần phải tin hiểu một cách sâu sắc. Khi tin hiểu sâu sắc thì quý vị sẽ thấy, Tham Sân Si là nguyên nhân của khổ thì bây giờ chấm dứt Tham Sân Si mới chấm dứt khổ được, mà muốn chấm dứt Tham Sân Si thì phải chấm dứt tâm Biết ý thức Tà kiến, thay bằng tâm Biết ý thức Chánh kiến thì lúc đó mới chấm dứt khổ.
Khổ thuộc về nội tâm, nguyên nhân của khổ thuộc về nội tâm chứ không phải là từ thế giới ngoại cảnh mà đến. Cho nên cầu nguyện không có mặt trong đạo Phật thật. Đạo Phật thật: muốn chấm dứt khổ thì phải thực hành Bát Chánh Đạo (Đạo đế), duy nhất như vậy chứ không có cầu nguyện.
Cầu nguyện là tôn giáo, nhưng nếu như không có cầu nguyện thì làm sao mà tồn tại được tôn giáo. Đạo Phật thật không phải là tôn giáo, không có cầu nguyện. Toàn bộ Giáo Pháp, Đức Phật chỉ nói về khổ và chấm dứt khổ, và cụ thể hơn là nguyên nhân của khổ là Tham Sân Si, chấm dứt Tham Sân Si là chấm dứt khổ. Đó là cái quy luật nhân quả cần phải tìm hiểu một cách sâu sắc, hiểu rồi thì biết rằng là cầu nguyện chẳng có ích lợi gì, chẳng có kết quả gì ở trong Phật giáo cả.
Phát nguyện: Quý vị hiểu là mình phát nguyện bây giờ để tương lai đạt được kết quả, phải không? Hành vi phát nguyện là phát sinh bây giờ để cho tương lai đạt được cái kết quả đó, và như vậy là sống với tương lai phải không quý vị?
Đức Phật dạy Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Tín – Tấn đó là làm công tác chuẩn bị, hoàn toàn không phải phát nguyện làm công tác chuẩn bị. Muốn tu tập Bát Chánh Đạo là phải làm công tác chuẩn bị, có Văn có Tư, và Đức Phật dạy là Tín – Tấn, hay là Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc và tiếp đến là thực hành Bát Chánh Đạo siêu thế. Khi thực hành, Bát Chánh Đạo siêu thế khởi lên thì lúc đó quý vị sẽ không ràng buộc kết quả, cho dù cái dự định của mình có thành công hay thất bại thì lúc đó bình thản, không còn phát nguyện là ước vọng tương lai.
Vì vậy, trong đạo Phật thật không hề tồn tại phát nguyện. Nhưng mà đã là tôn giáo, đạo Phật tôn giáo với mọi tôn giáo khác thì đương nhiên vẫn sống với ước vọng tương lai, mong rằng hết khổ trong tương lai, thì đó là bản chất của cuộc đời và của tôn giáo. Hiểu biết của cuộc đời là sống cho tương lai, nó cũng phù hợp với tôn giáo, vì vậy các tôn giáo đáp ứng tâm thức của con người, cái khát khao, mong muốn, ước vọng tương lai của con người.
Cho nên trong đạo Phật tôn giáo cũng có phát nguyện, nhưng nó không phải đạo Phật thật, phát nguyện không ở trong đạo Phật thật.
Câu 5: “Pháp mà Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng” thì “khéo léo” ở đây được hiểu như thế nào cho đúng?
Trả lời:
Tại sao nói Giáo Pháp của Đức Phật là khéo léo thuyết giảng? “Khéo léo” này có phải là dùng những kiến thức thế gian và Bát Tà Đạo rồi khéo dẫn dụ người nghe để tìm hiểu Giáo Pháp không? Cái đó không phải.
Đức Phật có mười danh hiệu, trong đó có danh hiệu là Thiện Thệ, là bậc đã đến nơi tốt đẹp. Thiện Thệ là bậc đã đến nơi tốt đẹp, tức là đến Niết bàn vô dư. Và không những là bậc đã đến nơi tốt đẹp mà bậc đã nói những điều tốt đẹp. Thế nào là bậc Thiện Thệ đã nói những lời tốt đẹp? Đó là:
Thứ nhất, những gì không như chân, không như thật thì Đức Phật không bao giờ nói.
Thứ hai, Đức Phật chỉ nói những điều như chân, như thật.
Thứ ba, những điều không như chân, không như thật được quần chúng yêu thích, ái mộ, tán thán, hưởng ứng, cổ vũ – cho dù điều không như chân, không như thật đó được quần chúng ái mộ, tán thán, vinh danh, ca ngợi, nhưng Đức Phật không vì những cái đó mà nói những điều không như chân như thật.
Thứ tư, những điều như chân, như thật nhưng khó nghe, khó lĩnh hội, khó tiếp thu, không được quần chúng ái mộ, tán thán, vinh danh, ca ngợi, Đức Phật biết cách để nói.
Cái cuối cùng này chính là Đức Phật đã KHÉO LÉO thuyết giảng. Pháp mà Đức Phật khéo léo thuyết giảng thì chữ “khéo léo” ở đây là ám chỉ rằng: những điều như chân, như thật thì thường là khó nghe, khó nói, khó lĩnh hội, không được quần chúng yêu thích, tán thán, ca ngợi (như dân gian nói là thuốc đắng giã tật) thì Đức Phật biết cách để nói. Đó gọi là “khéo léo thuyết giảng”.
Câu 6: Phương pháp thiền của Sư có đúng lời Phật dạy không?
Phương pháp thiền của thiền sư giảng dạy con thấy quá đơn giản. Phật Pháp nhiệm màu mà chỉ thực hành đơn giản là cắn chặt răng ngậm chặt lưỡi, như vậy có đúng lời Phật dạy không ạ?
Trả lời:
Quý vị hỏi là những cái này có đúng với lời Phật dạy không, thế thì chúng ta phải xác định như thế này: giáo lý Phật mênh mông rộng lớn nhưng nếu nói gọn thì Phật chỉ nói về khổ và sự chấm dứt khổ thôi. Đấy là điều căn bản của cuộc đời con người. Con người chỉ có mục đích là chấm dứt khổ.
Quý vị đã sống cuộc đời này rất nhiều năm rồi, đã có kinh nghiệm về khổ, và bây giờ được phân tích cả về khổ thân lẫn khổ tâm. Bây giờ quý vị muốn biết là cái này có đúng với lời Phật dạy hay không. Quý vị phải thấy rằng, tính chất Giáo Pháp của Phật là đến để mà thấy chứ không phải đến để mà tin. Nếu như bây giờ tôi nói với quý vị cái này là đúng với lời Phật dạy, không sai một tí nào, chính xác 100% thì xảy ra hai trường hợp:
Trường hợp thứ nhất, là quý vị không tin. Có những người khi nghe tôi nói đây là Giáo Pháp của Phật, 100% là của Phật thì họ đã nói rằng ông sư này là tà kiến, nói láo thôi, đây không phải là Giáo Pháp của Phật. Phật nói chú tâm vào hơi thở vô, hơi thở ra mà bây giờ ông lại là cắn chặt răng lưỡi. Trường hợp này đã xảy ra, rất nhiều người nói ông sư Nguyên Tuệ là tà kiến, đây không phải là lời Phật dạy.
Trường hợp thứ hai, có người nghe ông sư Nguyên Tuệ nói rằng đây là Giáo Pháp Phật thì họ tin ngay.
Bây giờ mà tôi trả lời, nói đây là Giáo Pháp Phật, đây là đúng thì một là quý vị không tin, hai là quý vị tin ngay. Nhưng không tin hay tin ngay thì đều không phải, đều trật cả. Nếu quý vị đến đây, nghe tôi nói mà tin thì đó cũng chưa phải là tính chất Giáo Pháp, mà không tin thì cũng chưa đúng tính chất Giáo Pháp. Quý vị phải lấy tiêu chuẩn Giáo Pháp của Phật là đến để mà thấy, chứ không phải đến để mà tin.
Đến để mà thấy nghĩa là quý vị học những lý thuyết này thì quý vị phải so sánh với sự thực trong cuộc đời quý vị, lúc đó quý vị tự mình kết luận, nó đúng với sự thực thì quý vị kết luận đây đúng là lời Phật dạy, còn nếu nó không đúng thì quý vị kết luận là sai lời Phật dạy.
Ví dụ thế này: con người thì cho rằng Khổ Vui là ở trong đối tượng được nhìn thấy đó. Bây giờ, ở đây (trong khóa học này) thì nói rằng, Khổ Vui không ở trong đối tượng được thấy đó, mà Khổ Vui phát sinh là do: thích đối tượng đó thì sẽ vui, mà chán ghét đối tượng đó thì khổ. Vậy cái nào là đúng sự thật, cái nào là sai sự thật?
Thế thì quý vị đã sống rồi, quý vị có thể soi xét lại sự thật đó để khẳng định lời giảng này là đúng hay sai sự thật. Đó là quý vị đến để mà thấy.
Rồi quý vị phải thực hành, nếu như là quý vị thực hành đúng, kiểm tra kiểm chứng là thực hành đúng rồi thì có kết quả là Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây không? Nếu như nó đúng thì cái này là đúng, là sự thật. Nếu như là nghe giảng và hiểu đúng rồi, thực hành đúng rồi mà không đưa đến Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây, thì lúc đó cái này không đúng sự thật, không phải là lời Phật dạy.
Lời Phật dạy là chân lý, là sự thật. Cho nên quý vị phải đến để mà thấy chứ không phải là đến để mà tin.
Câu 7: Thuyết phục người khác tu tập Bát Chánh Đạo
Nếu một người còn chưa đủ ăn, sống trong hoàn cảnh quá khốn khổ, làm sao có thể thuyết phục được họ thực hành Bát Chánh Đạo với cái bụng đói ạ? Phải chăng một người còn nỗi khổ trên thân thì rất khó để nghĩ đến ý nghĩa cuộc sống?
Trả lời:
Quý vị thấy rằng Giáo Pháp này là dành cho người trí, tự mình giác ngộ, chứ không phải cho tất cả mọi người. Tôi đã nhắc rằng Đức Phật có nói: Hỡi những ai có tai muốn nghe thì hãy nghe rồi từ bỏ Tà kiến. Lời này khẳng định rằng Ngài không mời gọi, không thuyết phục, không đe dọa ai phải nghe Pháp. Ngài không mời ai đến nghe, không thuyết phục ai cần phải nghe, cũng không ép buộc ai phải nghe.
Vì vậy, nếu quý vị nghĩ rằng phải thuyết phục mọi người tu tập Bát Chánh Đạo, thì cần từ bỏ ý đó. Chúng ta có thể tạo duyên, tiếp xúc, gieo duyên với họ, nhưng chỉ khi họ có trí, họ mới tự tiếp thu. Chữ “thuyết phục” ở đây là không đúng.
Còn về việc “một người còn nỗi khổ trên thân thì rất khó nghĩ đến ý nghĩa cuộc sống” – ý quý vị nói rằng người nghèo khổ thì khó tiếp cận Giáo Pháp. Không phải người giàu có là người trí, và người nghèo khổ là không trí. Có những người nghèo nhưng vẫn có trí, và ngược lại. Chúng ta không thể nhìn bề ngoài để kết luận ai là người trí, ai không.
Người trí, dù giàu hay nghèo, vẫn có thể tiếp cận Giáo Pháp và thực hành. Giáo lý này là để thay đổi tâm, không phải thay đổi cảnh. Người giàu có thể dùng Giáo Pháp để chấm dứt khổ trong hoàn cảnh giàu có của họ. Người nghèo, nếu có trí, cũng có thể dùng Giáo Pháp để thay đổi tâm, sống an vui trong hoàn cảnh nghèo khó.
Khi nhận thức Vô minh cho rằng Khổ – Tập – Diệt – Đạo thuộc về thế giới ngoại cảnh, người ta sẽ nghĩ phải thay đổi hoàn cảnh mới hết khổ. Nhưng khi hiểu rằng thực tại này là tâm, Khổ – Tập – Diệt – Đạo thuộc về tâm, thì người ta sẽ biết: muốn hết khổ thì phải thay đổi tâm, không phải thay đổi cảnh.
Câu 8: Về kinh điển và các phương pháp tu khác
Con hiểu phương pháp thầy đang dạy dựa trên góc nhìn Đức Phật cũng là con người như chúng ta và lý giải các trải nghiệm đúc kết của người bằng các biện chứng khoa học. Nhưng về góc độ tâm linh và huyền huyễn, những bài giảng và trải nghiệm khác trong kinh kệ như kinh Địa Tạng, kinh A Di Đà, kinh Pháp Hoa… thì tất cả những điều trên cũng không thể phủ nhận được phải không ạ? Vậy các pháp tu đó giờ con vẫn tu thì có tiếp tục tin theo được nữa không?
Trả lời:
Quý vị đã nghe bài giảng đầu tiên là năm tính chất của Giáo Pháp. Những gì là Giáo Pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng ngộ và thuyết giảng, Giáo Pháp thật của Đức Phật thật thì phải đầy đủ năm tính chất: thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không bị chi phối bởi thời gian, có tính chất hướng thượng, và cho người trí tự mình giác ngộ. Quý vị phải nắm vững năm tính chất này rồi quý vị sẽ tự mình giải đáp được các nghi vấn này. Bây giờ tôi giải đáp nghi vấn này quý vị cũng chưa chắc đã tin, chỉ khi nào quý vị tự mình giải đáp được các thắc mắc này thì lúc đó mới rốt ráo được.
Khi nghiên cứu các phương pháp, các bài kinh đó, quý vị có thể so sánh với hai tính chất đầu:
- Thiết thực hiện tại: Thiết thực hiện tại là chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây. Giáo Pháp này, nếu thực hành đúng, thì đưa đến Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây, chứ không phải đưa đến Hết Khổ Được Vui trong tương lai. Quý vị lấy tiêu chuẩn thứ nhất đó so sánh với những kinh mà quý vị đưa ra, có tiêu chuẩn đó không? Tu những pháp đó có đưa đến Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây không? Nếu không đưa đến Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây, đặc biệt là không có phương pháp để thực hành để đưa đến hết khổ ngay bây giờ và tại đây thì đó không phải là kinh Phật mà là của người sau, là Tà kiến của người sau.
- Đến để mà thấy: Những gì là kinh Phật thật thì quý vị đến để mà thấy chứ không phải đến để mà tin. Có nghĩa là mình có thể kiểm tra, kiểm chứng được những điều đó có đúng sự thật không. Quý vị so sánh xem những cái mà quý vị nêu lên đó, quý vị có kiểm tra, kiểm chứng được không? Quý vị có khẳng định được, mắt thấy tai nghe là có Tây Phương Cực Lạc hay có địa ngục không? Những cái đó nếu không đến để mà thấy được thì chỉ đến để mà tin. Mà đến để mà tin thì không phải là kinh Phật.
Thiền sư Nguyên Tuệ

