Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 11 – LÝ DUYÊN KHỞI

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 11 – LÝ DUYÊN KHỞI

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 11 – LÝ DUYÊN KHỞI

Câu 1:   Hiểu đúng về chữ “Duyên”

Trả lời:

Từ “duyên” là một từ rất rắc rối và nhiều người hiểu sai, kể cả các tông phái Phật giáo. Họ giải thích “nhân – duyên – quả” là có nhân và có duyên trợ giúp thì lúc đó phát sinh quả. Hiểu biết này xuất phát từ việc hiểu sai quy luật nhân quả, cho rằng một nhân phát sinh ra một quả, nhân biến đổi thành quả.

Khi quan sát thực tế, họ lại thấy rằng không thể có chuyện một nhân tự phát sinh ra quả, tự mình biến đổi thành quả được. Do đó, các trường phái Phật giáo đã thêm vào, như Bắc Tông nói: nhân chính biến đổi thành quả phải có nhân phụ trợ giúp; Nam Tông thì nói: nhân chính biến đổi thành quả phải có duyên trợ giúp. Dù hai tông phái dùng từ “nhân phụ” hay “duyên”, thực chất nội dung đều như nhau, họ thuyết minh quá trình nhân quả là: nhân có duyên trợ giúp thì lúc đó mới phát sinh ra quả.

Chữ “duyên” và cách hiểu “nhân – duyên – quả” của các tông phái Phật giáo là “duyên” chỉ mang nghĩa trợ giúp để nhân biến đổi thành quả.

Khi quý vị quán sát sự thật Duyên Khởi: hai nhân tương tác với nhau mới phát sinh ra quả. Quý vị sẽ thấy rằng Đức Phật đã thuyết minh chữ “duyên” có nghĩa là tiếp xúc, hay nói theo ngôn ngữ ngày nay là tương tác.

Trong kinh nói: Mắt duyên với Sắc trần thì phát sinh nhãn thức. Như vậy phải có mắt tiếp xúc với Sắc trần mới phát sinh nhãn thức. Cho nên, chữ “duyên” mà Đức Phật dùng chính là tiếp xúc, là tương tác. Chữ “duyên” đó biểu hiện rằng phải có hai nhân mới tiếp xúc nhau, mới duyên nhau. “Duyên” không phải là trợ giúp, mà “duyên” chính là tiếp xúc, là tương tác.

“Duyên” Trong Thập Nhị Nhân Duyên

Quý vị sẽ thấy điều này rất rõ ràng khi đọc trong kinh Nikaya: “Duyên Vô minh mà có Hành; Duyên Hành mà có Thức, Duyên Thức mà có Danh Sắc, Duyên Danh Sắc mà có Lục nhập, Duyên Lục nhập mà có Xúc, Duyên Xúc mà có Thọ, Duyên Thọ mà có ái.

Ví dụ: “Duyên Thọ mà có Ái” – điều này nói rằng Thọ là một nhân, phải duyên với một nhân khác nữa thì mới phát sinh ra Ái. Rồi Ái là một nhân, phải duyên với một nhân nữa thì mới phát sinh ra Thủ. Thủ là một nhân, phải duyên với một nhân khác nữa thì mới phát sinh ra Hữu…

Quý vị thấy rằng từ “duyên” mà Đức Phật chế định ra rất công phu, rất tinh tế. Nếu con người hiểu sai chữ “duyên” thì lập tức hiểu sai toàn bộ nội dung kinh điển.

Kinh điển nói rõ ràng: “Do mắt duyên với Sắc trần” – Mắt là một nhân, Sắc trần là một nhân, hai cái đó tương tác với nhau, hay là tiếp xúc với nhau, thì đó gọi là “duyên”. Vì vậy, quý vị phải hiểu chữ “duyên” là tiếp xúc, là tương tác.

Chữ “duyên” này cũng từ Hán Việt mà đã được Việt hóa. Chữ “duyên” bao gồm trong đó là phải có hai yếu tố mới có “duyên”, chứ một yếu tố thì không bao giờ có chữ “duyên” cả. Chữ “duyên” nêu lên mối quan hệ tương tác, tiếp xúc giữa hai yếu tố, tức là hai nhân.

Câu 2:   Định luật bảo toàn năng lượng có đúng với quy luật duyên khởi không?

Trả lời:

Định luật bảo toàn năng lượng là một Tà kiến gọi là Thường kiến xuất phát từ quan điểm Duy vật, nghĩa là Năng lượng sẵn có, luôn luôn có, không sinh không diệt. Tà kiến này phát sinh do hiểu biết sai quy luật nhân quả, không thấy được sự thật Lý duyên khởi (quy luật nhân quả). Hiểu biết sai là MỘT NHÂN SINH QUẢ, NHÂN BIẾN ĐỔI THÀNH QUẢ nên năng lượng là sẵn có, không sinh không diệt, thường hằng thường trú, nó chỉ đi chuyển từ vật này sang vật khác, biến đổi từ dạng này sang dạng khác.

Ví dụ về điện mặt trời, người ta nói năng lượng từ ánh sáng mặt trời biến đổi thành điện năng, tức là năng lượng sẵn có trong ánh sáng mặt trời, rồi nó chuyển hóa biến đổi thành điện năng. Như vậy năng lượng là sẵn có, nó chỉ biến đổi từ năng lượng mặt trời thành điện năng thôi. Nhưng làm gì có chuyện nó biến đổi được như vậy, nó là do tương tác.

Ví dụ: trước đây người ta chà xát hai thanh củi khô vào nhau làm phát sinh ra lửa. Nếu nói là chuyển hóa biến đổi thì lửa đó phải sẵn có trong thanh củi thì nó mới biến đổi thành lửa được chứ, nhưng thực chất sự tương tác (chà xát) giữa hai thanh củi mới phát sinh ra lửa chứ không phải lửa ở sẵn trong gỗ.

Không những năng lượng mà mọi quan điểm của khoa học đều là Tà kiến (thường kiến) vì nó xuất phát từ quan điểm gốc là một TIÊN ĐỀ không chứng minh được (thực chất là một giả thiết): Vật chất không sinh ra cũng không diệt đi mà chỉ biến đổi từ vật này sang vật khác, từ dạng này sang dạng khác.

Quan sát sự thật thì tất cả mọi loại năng lượng không sẵn có ở đâu cả mà mọi loại năng lượng đều phát sinh do DUYÊN KHỞI theo định luật: Hai nhân tố tương tác với nhau mới phát sinh năng lượng. Không có tương tác không thể có năng lượng. Vì năng lượng do Duyên khởi nên năng lượng vô thường, năng lượng vô chủ sở hữu (vô ngã).

Hãy quan sát các loại năng lượng trong thực tế để ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY năng lượng không sẵn có ở đâu cả mà nó chỉ phát sinh khi có hai nhân tương tác.

Câu 3:  Duyên giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái là như thế nào?

Trả lời:

Chúng ta hiểu chữ “duyên” đơn giản nhất là tiếp xúc với nhau thì gọi là duyên. Chẳng hạn, cô gặp cô bạn nào đó thì gọi là duyên. Có những người khác cô không gặp thì không có duyên nên không gặp. Nói chữ “duyên” là nói đến hai đối tượng tiếp xúc với nhau, tương tác với nhau. Những thông tin trong kho chứa có tương tác được với nhau thì phải có duyên với nhau. Ví dụ, mắt chỉ có duyên với sắc trần chứ mắt không có duyên với âm thanh. Mắt chỉ tương tác được với sắc trần chứ không tương tác được với thanh trần. Tương tác được gọi là duyên mà không tương tác được thì là không có duyên.

Tương tác cũng có nhiều mức độ khác nhau nên kết quả phụ thuộc vào duyên nữa chứ không phải là nhân. Cũng cái tay và cái bàn tiếp xúc với nhau thì gọi là duyên. Nhưng khi tiếp xúc sờ lên mặt bàn thì phát sinh cảm giác cứng hay mềm. Nếu tay xoa lên bàn thì phát sinh cảm giác thô hay mịn. Mà duyên theo kiểu tay nâng bàn lên thì phát sinh cảm giác nặng hay nhẹ. Chúng ta hiểu hai nhân tương tác với nhau thì phát sinh quả nhưng quả đó không những phụ thuộc vào hai nhân mà còn phụ thuộc vào duyên, tức là cách tương tác nữa. Cho nên chữ “duyên” mình hiểu một cách tóm tắt là hai cái tương tác với nhau.

Duyên cũng có đủ kiểu duyên, ví dụ một cô gái và chàng trai lấy nhau cũng là duyên. Có những cô gái khác mà chàng trai này không lấy, ta nói là không có duyên. Duyên đó là ở mức độ khác, nhưng anh ta vẫn nói chuyện với các cô gái khác là vẫn có duyên chứ. Duyên cũng có nhiêu mức độ, cách thức khác nhau. Cho nên nói các pháp là có nhân có duyên chứ không phải chỉ một mình nhân. Đã nói chữ “duyên” là phải có hai nhân.

Duyên là còn ở trong bộ nhớ, quá khứ nữa. Ví dụ, cùng một cô gái và có ba chàng trai nhìn. Mắt ba chàng trai tiếp xúc với cô gái thì chúng ta có thể hình dung ra nhãn thức của ba chàng trai thấy cảm giác hình ảnh là giống nhau. Nhưng một người thì khen cô gái đẹp thì thích, một người chê cô gái xấu thì ghét, một người thứ ba thì thấy cô không đẹp không xấu.  Cái đó phụ thuộc vào duyên ở trong bộ nhớ. Nếu như trong bộ nhớ người này thì hình mẫu như thế là đẹp nhưng đối với người kia là xấu thì đưa đến cái Biết ý thức của người này đẹp, người kia xấu.

Cũng có thể trong những kho chứa này có những hình ảnh tương tự mà khi Niệm kích hoạt, Tư duy khởi lên so sánh đối chiếu những hình ảnh này với hình ảnh trong kho chứa. Trong kho chứa có thể kiếp này hoặc kiếp quá khứ có những hình ảnh tương tự như vậy thì bây giờ người đó thấy, Niệm kích hoạt hình ảnh đó lên với những thông tin tương tự  đưa đến cái Biết ý thức là có cảm tình trong đó ngay. Nếu như trước kia hình ảnh đó có quan hệ tốt đẹp thì bây giờ cái Biết ý thức đó phụ thuộc vào duyên xưa tương tác.

Chúng ta hiểu nguyên lý vận hành như vậy thôi, nó cũng rất phức tạp chứ không đơn giản. Đến ngày thứ bảy, khi học về hóa sanh quý vị sẽ hiểu được vì sao có thanh niên hai mấy tuổi lại lấy bà già 60, 70 tuổi. Nó phụ thuộc vào thông tin trong kho chứa.

Câu 4:  Duyên khởi và Dự báo

Thưa sư, các sắc pháp và danh pháp là vô thường và vô ngã, vậy việc dự báo thời tiết, thiên tai, suy thoái kinh tế, giá cổ phiếu, giá vàng tăng giảm… là loại công việc đang làm trái với sự thật về vô thường và vô ngã hay sao? Rõ ràng công việc dự báo này rất có lợi cho con người mà?

Trả lời:

Dự báo: có thể sự việc sẽ xảy ra như vậy, hoặc không. Mức độ của kết quả đó không phải hoàn toàn đúng theo dự báo.

Tất cả các sự vật hiện tượng, danh hay sắc thì đều đang xảy ra theo một quy luật duy nhất là QUY LUẬT DUYÊN KHỞI. Cho dù con người có hiểu hay không hiểu quy luật đó thì nó vẫn xảy ra như vậy. Và đã là quy luật thì không ai có thể thay đổi, điều khiển được quy luật đó.

Hiểu biết sai lầm của nhân loại: một nhân biến đổi thành quả. Tuy hiểu sai như vậy, trong cuộc sống hàng ngày con người vẫn mày mò, tìm kiếm, tuy không diễn đạt được, không hiểu thực chất cơ chế nhưng vẫn tuân theo quy luật: là hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mới phát sinh ra một hay nhiều quả mới.

Khi có hiểu biết về duyên khởi, thì có thể dự báo về kết quả, ở cả mức độ định lượng và định tính.

Ví dụ 1: quan sát việc nấu cơm, quan sát thô thì thấy hai nhân tố gạo và nước, tiếp xúc với nhau phát sinh ra cơm. Một người thành thạo, hiểu biết tường tận duyên khởi về việc nấu cơm thì hiểu biết được cả định tính và định lượng về gạo và nước: dùng bao nhiêu gạo, bao nhiêu nước, thời gian tương tác bao nhiêu… để nấu thành cháo, hay cơm khô, hay cơm nhão… Một người chưa bao giờ nấu cơm, chưa học về nấu cơm thì nhìn từng đó gạo, từng đó nước thì không biết phát sinh ra cái gì. Còn một người thuần thục nấu cơm thì nhìn từng đó gạo, từng đó nước sẽ dự đoán được kết quả là cơm hay cháo…

Ví dụ 2: trong vật lý có công thức tính cường độ dòng điện (I = U/R) là công thức định lượng, mô tả tương tác hiệu điện thế (U, là thông tin ở 2 đầu dây dẫn) và điện trở (R) phát sinh ra dòng điện (I). Theo nguyên lý duyên khởi, hai nhân là hiệu điện thế và điện trở tương tác với nhau thì phát sinh ra dòng điện, công thức đó chính là biểu hiện lượng thông tin. Khi một người hiểu biết về công thức đó thì họ có thể chế ra bóng đèn, cho điện trở của dây dẫn bao nhiêu đó, rồi ứng với điện thế bao nhiêu thì ra công suất bao nhiêu…

Quý vị sẽ thấy rằng việc dự báo thời tiết hay bất kỳ dự báo nào khác đều dựa vào quy luật duyên khởi. Phải là nghiên cứu hai nhân tương tác với nhau như thế nào đó mới phát sinh ra các kết quả. Tuy nhiên, quá trình nhân quả không phải là một quá trình duy nhất mà là rất nhiều quá trình nhân quả nối tiếp nhau. Các nhân tố này cũng sinh diệt liên tục và vô thường.

Chẳng hạn, dự báo thời tiết cũng phải dựa theo nguyên tắc hai nhân tương tác, với rất nhiều quy trình nối tiếp nhau để suy luận. Nhưng kết quả có thể không đúng hoặc không xảy ra. Hoặc có thể xảy ra nhưng mức độ chính xác của dự báo thì khác nhau, là bởi vì nhân diệt quả sinh: các quả đó đều vô thường. Tuy vô thường nhưng chúng cũng biến đổi theo tần suất và mức độ nhất định chứ không phải trái ngược nhau hoàn toàn. Có những trường hợp dự đoán sai là do có những yếu tố trái ngược nhau.

Cho nên, quý vị cũng thấy rằng những kết quả của dự đoán thì có những cái cũng gần với sự thật, gần đúng.

Câu 5:  Mục đích Tuệ tri Vô thường là để làm gì?

Trả lời:

– Để nhận thức sự nguy hiểm: Nếu tham ái những gì vô thường thì sẽ đưa đển khổ.

– Để tuệ tri Vô minh về Vô thường thì mới từ bỏ được những nhận thức Vô minh về vô thường: lối sống Vô minh của nhân loại là TRÁI VỚI QUY LUẬT VÔ THƯỜNG.

Vốn bản chất của các sự vật hiện tượng là duyên khởi, vô thường, nhưng con người là sống CHẤP THƯỜNG. Biểu hiện Chấp thường là ở đâu? Phải tuệ tri các biểu hiện Chấp thường, Thường kiến thì mới từ bỏ được nó.

Con người bị chi phối, khao khát ổn định, mong muốn ổn định, trong tâm khảm của con người bao giờ cũng muốn hướng đến sự ổn định, an cư mới lạc nghiệp. Rộng lớn ở mức độ quốc gia: ví dụ Việt Nam đang có thu nhập bình quân đầu người đang là 4.000-5.000$/người/năm và đang phấn đấu nỗ lực để đạt 40.000-50.000$ như Mỹ thì lúc đó là ổn định… Nếu con người khởi lên tư tưởng đó, nó chi phối chiếm lĩnh đời sống, cho nên mới có câu Đã biết vô thường sao còn phiền não? Là do không Tuệ tri Vô minh về Vô thường, như vậy thì không thể nào chấm dứt Vô minh về Vô thường.

Ví dụ: muốn cho con cái lập gia đình để ổn định…

Hay: chủ trương của loài người là ca ngợi tình yêu chung thủy, phản đối sự không chung thủy. Bản chất mọi sự đều vô thường, kể cả tình yêu đều vô thường, không cố định, không vĩnh viễn. Bây giờ lại đi sống ngược với quy luật vô thường.

Ví dụ trong kinh doanh: thị trường biến động liên tục, nhân sự biến động liên tục. Mà trong tâm lại khao khát ổn định, mong muốn ổn định, không chấp nhận vô thường, vì thường kiến sâu dày, nên khi có biến động thì sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên.

Một người nếu tuệ tri về vô thường, hiểu rõ mọi thứ đều sinh diệt, vô thường, không có gì là ổn định cả, khi sự việc vô thường thì xử lý, giải quyết một cách bình thản, bình tĩnh, không bức xúc đau khổ. Một người không chấp nhận vô thường mà chỉ khao khát thường, mong muốn thường thì vẫn phải giải quyết sự việc khi nó vô thường nhưng là với sầu bi khổ ưu não.

Một ví dụ khác: con người chấp thường về tuổi tác, về sắc đẹp, về sống chết. Một cái quan trọng là CHẤP THƯỜNG SỐNG CHẾT: Sống Chết là quy luật, mà đã là quy luật thì không ai có thể điều khiển làm chủ, không phụ thuộc bất kỳ một ai. Với phần đông nhân loại, khi người thân, cha mẹ, con cái… chết thì đều đau khổ, khóc lóc. Vì sao? Vì khao khát chấp thường. Vì Vô minh, vì tư tưởng chấp thường. Con người vì chấp thường, khao khát thường còn, mong muốn thường còn, cho nên khi vô thường xảy ra thì liền khởi sầu bi khổ ưu não.

Nếu một người thẩm thấu quy luật vô thường thì đối với bất kỳ sự chết nào cũng đều bình thản.

Câu 6:  Con là người quyết định tham gia khóa thiền, làm việc A làm việc B, như vậy có mâu thuẫn với tính chất vô ngã không?

Trả lời:

Khi quý vị nghiên cứu sâu sắc về bài học Lý duyên khởi, quý vị thấy, tất cả các sự vật hiện tượng phát sinh theo quy luật duyên khởi, cụ thể là hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mới phát sinh một hay nhiều quả. Từ đó mà suy ra hai hệ quả là tính chất vô thường và vô chủ vô sở hữu của các sự vật hiện tượng.

Cụ thể: các sự vật hiện tượng, mà thuật ngữ Phật học gọi là các pháp, đều có tính chất vô thường, sinh lên rồi diệt đi. Tính chất thứ hai là vô chủ chủ vô sở hữu, đồng nghĩa là không có một cái Ta nào là chủ nhân, chủ sở hữu của các sự vật hiện tượng đó. Đồng nghĩa không có một cái Tôi, Ta, ông A bà B, một bản ngã nào là chủ nhân chủ sở hữu các sự vật hiện tượng, điều này gọi là Vô ngã. Vô ngã là không có cái Ta, Tôi nào là chủ nhân chủ sở hữu cả.

Quý vị phải phân biệt: vẫn có các ý nghĩ, lời nói, hành động, vẫn có tác ý, tức quyết định, nhưng các tâm hành hay lời nói, hành động đó phải có tính chất là vô chủ, vô sở hữu. Nghĩa là không có Tôi, Ta, ông A, bà B nào là chủ nhân, chủ sở hữu làm ra các tâm hành đó.

Vẫn có lời nói, hành động nhưng lời nói, hành động đó là vô chủ, vô sở hữu. Vì lời nói, hành động phát sinh phải diễn tiến theo lộ trình duyên khởi, mà cụ thể ở đây là lộ trình tâm Bát Tà Đạo: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, rồi Tà niệm, Tà tư duy, Tà kiến khởi lên, rồi đến Tham Sân Si, Tà định, Dục, rồi Phi như lý tác ý, rồi lúc đó mới phát sinh ra Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, hay là lời nói, hành động.

Như vậy, lời nói, hành động phát sinh theo một chuỗi duyên khởi như vậy. Mà mỗi một chi phần đều vô chủ, vô sở hữu. Cho nên, không có ai là chủ nhân, là tác giả, là người làm ra các lời nói, hành động. Lời nói, hành động là do duyên mà khởi lên.

Quý vị nghe kỹ bài giảng Lý duyên khởi rồi dần dà sẽ hiểu ra. Đặc biệt, khi nói là vô ngã thì chưa rõ, quý vị phải hiểu được tính chất vô chủ, vô sở hữu.

Như quý vị đã quan sát, ví dụ tay quý vị là một nhân tiếp xúc với cái bàn là một nhân, thì lúc đó mới phát sinh ra cảm giác cứng. Rõ ràng, tay là một nhân, cái bàn là nhân thứ hai, hai nhân này chưa tiếp xúc với nhau thì chưa có cảm giác cứng xuất hiện. Khi tay và cái bàn tiếp xúc với nhau thì lúc đó mới phát sinh ra cảm giác cứng. Cảm giác cứng là do tiếp xúc, do tương tác giữa tay và cái bàn mà phát sinh. Cảm giác cứng không phải là do tay hay do cái bàn biến đổi mà thành, mà là do tương tác, do tiếp xúc mà phát sinh. Tiếp xúc hay tương tác đó thuật ngữ Phật học gọi là duyên. Cảm giác cứng đó do duyên mà khởi lên, chứ không phải do nhân biến đổi mà thành. Như vậy, cảm giác cứng đó không phải là của tay, không phải là của bàn; không phải là do tay làm ra, cũng không phải là do bàn làm ra. Tay không phải là chủ nhân, tác giả làm ra cảm giác cứng đó; cái bàn cũng không phải là chủ nhân, là tác giả làm ra cảm giác cứng đó. Cho nên cảm giác đó là vô chủ, vô sở hữu.

Tương tự, lời nói, hành động, quyết định, tạm gọi là “của” quý vị, đó là do tương tác mà phát sinh ra, không có chủ nhân nào làm ra lời nói, hành động cả. Khi quý vị khởi lên “Ta làm” tức rơi vào tư tưởng Chấp ngã, cho rằng có một cái Ta làm ra lời nói hành động, ta đang nói, ta đang làm. Thực chất, lời nói, hành động, quyết định đó phát sinh theo một chuỗi duyên khởi.

Tóm lại, các sự vật hiện tượng là vô chủ vô sở hữu, đồng nghĩa không có cái Tôi, Ta nào là chủ nhân làm ra các sự vật hiện tượng đó.

Để lại một bình luận