CĂN BẢN TỨ THÁNH ĐẾ:  CHÁNH KIẾN VỀ KHỔ – VUI

CĂN BẢN TỨ THÁNH ĐẾ:  CHÁNH KIẾN VỀ KHỔ – VUI

Tuệ Căn bản là gì?

Phần tuệ căn bản đã có mặt trong một khóa tu một ngày rồi. Vậy phần tuệ căn bản là gì? Là sự thay đổi cái hiểu biết – từ hiểu sai sự thật sang hiểu đúng sự thật.

Căn bản nhất chính là thực hành phân biệt giữa hai loại hiểu biết: một là hiểu biết tà kiến, vô minh; hai là hiểu biết chánh kiến, cái biết Minh. Và vấn đề căn bản, cốt lõi của đời sống là khổ và vui, chỉ chừng đó thôi.

Nếu quý vị thật sự tuệ tri về khổ và vui, thì trong đó đã bao hàm Tứ Thánh Đế: khổ, nguyên nhân của khổ (tập), sự đoạn tận khổ (diệt) và con đường đoạn tận khổ (đạo). Ngược lại, hiểu sai về khổ vui là nền tảng của vô minh, là gốc rễ của luân hồi.

Chúng ta cần quan sát và nhận thức rằng:

Hiểu biết mặc định của nhân loại về Khổ Vui

Loại hiểu biết thứ nhất mà nhân loại mặc định sẵn: Cuộc đời có khổ có vui đó là sự thật, khi có khổ có vui ai cũng cảm nhận được, không cần phải học. Nói 1 cách văn vẻ Nhân loại cảm nhận được hạnh phúc và cảm nhận được đau khổ cái đó thì không cần ai dạy.

Khi vui hay khổ đến, ai cũng cảm nhận được, không cần học mới biết. Nhưng cái CẢM NHẬN này chỉ là cái biết trực tiếp từ giác quan, cái gọi là “CÁI THẤY” – “NHÓM TƯỞNG – NHÓM tâm GHI NHẬN” – chứ đây chưa phải là “biết ý thức”.

Nhưng tiếp theo là có CÁI BIẾT về KHỔ VUI, và nhân loại biết khổ vui là do THẾ GIỚI BÊN NGOÀI.

Và từ cảm nhận đó, nhân loại hình thành nên hiểu biết: khổ vui là do sắc đẹp, âm thanh, mùi thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái… hay từ của cải, địa vị, sức khỏe, sắc đẹp, v.v. Ai mà có những thứ đó thì người đó vui hạnh phúc, vui hạnh phúc có sẵn trong những thứ đó, vậy vui hạnh phúc thuộc về ngoại cảnh đúng không? Và khổ đau cũng như vậy: nó cũng thuộc về thế giới bên ngoài

Đây là hiểu biết của nhân loại, nhân loại đã mặc định đây là sự thật, đây là chân lý – KHỔ VUI Ở THẾ GIỚI BÊN NGOÀI.

Ví dụ: Có một đứa con hư cha mẹ khổ, thì từ người mù chữ đến nhà bác học đều kết luận rằng: CÁI KHỔ của cha mẹ là DO ĐỨA CON HƯ.

Và khi ai đó khổ vì con hư, vì chồng vợ, vì mất tiền, vì thiên tai…, mọi người đều dễ dàng đồng tình: “Đó là nguyên nhân của nỗi khổ.” Nhưng hiểu như vậy chính là hiểu sai sự thật.

Và khi đã hiểu sai về NGUYÊN NHÂN của khổ vui, thì con người sẽ tìm cách giải quyết khổ vui ở bên ngoài: tìm cầu lạc thú, tránh né hoàn cảnh, sửa đổi phong thủy, cầu cúng, đổ lỗi… Đó cũng chính: khổ, tập, diệt, đạo – nhưng theo cách hiểu của thế gian.

Thực tế, chính cái hiểu biết ấy đang chi phối đời sống của nhân loại, Và nhân loại sống với hiểu biết đó, đang bị nó chi phối nhưng không nhận thức ra được, đặc biệt không nhận ra rằng nó là HIỂU BIẾT sai sự thật.

Nếu chỉ có 1 mình hiểu biết đó thì không bao giờ khẳng định nó là sai, vì nhân loại chỉ có 1 loại hiểu biết DUY NHẤT đó nên mặc định nó là đúng, là sự thật.

(vì không có hiểu biết khác để đối chiếu)

KHẢO SÁT SỰ THẬT về Khổ Vui

CHÚNG TA KHẢO SÁT SỰ THẬT về Khổ Vui

  1. THẤY đối tượng: ĐẦU TIÊN phải THẤY ĐỐI TƯỢNG (ghi nhận)
  2. BIẾT đối tượng: đối tượng đó là gì, tính chất ra sao.

Do cái biết này cho rằng: trong những đối tượng dễ chịu là có hạnh phúc, trong những đối tượng khó chịu là có đau khổ, trong những đối tượng trung tính đó không có hạnh phúc, không có đau khổ.

Do cái biết đó mới phát sinh THÍCH đối tượng, CHÁN đối tượng, GHÉT đối tượng, và do THÍCH CHÁN GHÉT lúc đó mới có lời nói hành động cư xử với đối tượng.

Và kết quả rõ ràng và thực tế ai cũng quan sát được:

Thích đối tượng => thì VUI với đối tượng. Chán Ghét đối tượng => thì khổ với đối tượng đó.

Và từ SỰ THẬT này KHẲNG ĐỊNH 1 ĐIỀU: các đối tượng không có KHỔ VUI, mà KHỔ VUI phát sinh nơi TÂM, do thích đối tượng thì vui, chán ghét đối tượng thì khổ.

Và đây là sự thật không ai có thể chối cãi được, và từ sự thật này khẳng định 1 điều:

  • TRONG CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐÓ KHÔNG CÓ KHỔ VUI
  • KHỔ VUI phát sinh nơi tâm, là do THÍCH GHÉT đối tượng mà phát sinh

Sự thật này không ai chối cãi được, nhưng vì chưa quan sát sự thật, nên không có hiểu biết đúng sự thật là KHỔ VUI thuộc về nội tâm, chứ không thuộc về các đối tượng được thấy được nghe được cảm nhận – mà chúng ta gọi là thế giới bên ngoài.

Và bây giờ chúng ta có 2 loại hiểu biết, chỉ khi nào có hiểu biết đúng sự thật là KHỔ VUI NƠI TÂM, mới khẳng định HIỂU BIẾT: KHỔ VUI ở THẾ GIỚI NGOẠI CẢNH là SAI sự thật.

Cho nên bây giờ có 2 loại hiểu biết: TUỆ TRI cả VÔ MINH, TUỆ TRI cả MINH.

Chỉ khi nào thấy rõ rằng khổ vui là nơi tâm, mới biết rằng cái hiểu biết khổ vui do ngoại cảnhsai sự thật. Và chỉ khi ấy, mới thấy rõ rằng có hai loại tuệ tri: tuệ tri của vô minh và tuệ tri của minh.

Vì HIỂU BIẾT SAI về khổ vui, con người mới khởi tham, sân, si – đó chính là nguyên nhân của khổ. Còn khi hiểu đúng sự thật– rằng khổ vui là do tâm tham sân si mà phát sinh, thì không còn tham sân si, không còn khổ.

Cho nên, khi nghĩ rằng con cái, vợ chồng, nghèo khổ hay thiên tai làm mình đau khổ – thì mình còn hiểu sai – còn hiểu vô minh. Khi ấy mới oán trời trách đất, mới đổ lỗi, mới sân hận, mới đau khổ.

Ngược lại, khi thực hành đúng, không còn tham, sân, si, không có cái biết sai đó thì không còn khổ – bởi vì không còn hiểu sai về khổ vui.

Cái gốc rễ của mọi sai lầm, mọi sự khổ đau, chính là sự hiểu biết sai về khổ và vui. Do đó, việc cần thay đổi nhất, căn bản nhất, gốc rễ nhất cần phải thay đổi, chính là thay đổi hiểu biết về khổ vui.

Lộ trình Văn – Tư – Tu thay đổi hiểu biết về Khổ Vui

Thay đổi cái hiểu biết về khổ vui phải là theo cái lộ trình văn tư tu. Văn là nghe giảng này là được rồi phải không? Nghe giảng một lần, nghe giảng nhiều lần, đọc sách nhiều lần. Nhưng mà chưa đủ. Chưa thể nghe mà thay đổi được cái nhận thức từ vô minh sang minh được.

Bởi vì nghe giảng đấy nhưng mà ra kia thì cái hiểu biết cũ nó vẫn cứ khởi lên. Nó sâu dày rồi, chứ đâu có phải là đơn giản.

Vậy thì điều thứ hai là phải tư duy. Tư duy để thấy rằng cái hiểu biết sai nó ăn sâu trong tâm thức con người. Và phải phân biệt cái hiểu biết sai và hiểu biết đúng. Đặc biệt là hiểu biết sai là phải tư duy trên nền tảng là mình có hiểu biết đúng. Khi mình khởi lên tư duy thì trí nhớ sẽ kích hoạt cái thông tin MINH lên, và nó so sánh với những cái hiểu biết của thế gian, để thấy rằng nó xuất phát từ cái hiểu biết sai về khổ vui.

Thí dụ như bây giờ quý vị quan sát, thí dụ như phong thủy. Quý vị biết rồi, các kiến thức về phong thủy v.v., thì cho rằng hạnh phúc hay đau khổ của một con người là ở thế giới ngoại cảnh, ở cái phong thủy. Thế như vậy là chúng ta chỉ mặt đó là VÔ MINH rồi đúng không.

Nếu như khi chúng ta tư duy, lúc này mới có tư tuệ. Lúc nghe mới chỉ là văn tuệ thôi. Còn lúc tư duy là có thêm tư tuệ, thì nó mạnh hơn. Nếu như quý vị tư duy đúng, quý vị biết rằng lý thuyết phong thủy chỗ này chỗ kia v.v. cho rằng nhà này là hạnh phúc hay là tật bệnh, là khổ là do phong thủy. Có phải rõ ràng như vậy không?

Khi đó CHÁNH TƯ DUY nó tự động so sánh với cái hiểu biết này, với những điều đã học. Thì biết chắc chắn rằng cái hiểu biết đó là cái hiểu biết Vô Minh.

Nó xuất phát từ hiểu sai rằng khổ vui ở nơi thế giới ngoại cảnh, và tìm cách giải quyết nó ở thế giới ngoại cảnh. Ở mức độ tư tuệ này có thể bỏ được việc chạy theo phong thủy. Mức độ này là bỏ được rồi.

Chỉ cần chánh tư duy, ở mức độ tư là có thể bỏ được điều đó. Giống như tử vi, bói toán, long mạch v.v., những điều đó xuất phát từ hiểu biết khổ vui là ở nơi thế giới ngoại cảnh.

Rồi thì nói rằng đi xem gia sự như mồ mả hay bà, tổ, cô nào đó phù hộ nào đó. Trước kia, rõ ràng với hiểu biết đó là khổ vui ở nơi thế giới ngoại cảnh thì xem những điều đó là đúng.

Và khi nghe lời phán thì biết bao nhiêu là cúng tiền v.v. để giải quyết các vấn đề đó: mồ mả, âm phần, đủ các thứ. Trước kia là hợp lý. Còn bây giờ, nếu như CHÁNH TƯ DUY như vậy, biết nó xuất phát từ hiểu biết khổ vui ở thế giới bên ngoài thì có thể chấm dứt được điều đó.

Ở mức độ này chỉ tư thôi, tư tuệ thôi là chấm dứt được.

Rồi chẳng hạn như nói rằng bây giờ chúng ta phải nói đến phước báo. Tạo phước báo. Nếu như tư duy ở mức độ này: hôm trước chúng ta thấy mọi người chú ý đến phước báo, phải tìm cách cúng dường để có được phước báo v.v.

Đương nhiên khi nói đến phước báo, họ cố gắng làm mọi thứ để có được phước báo. Thì có phải rằng hiểu biết đó là khổ vui ở thế giới ngoại cảnh không?

Kể cả xá lợi, người ta mê mẩn, người ta thấy rằng nó linh thiêng v.v. Thì điều đó có phải là xuất phát từ khổ vui ở thế giới bên ngoài.

Quý vị mới thấy rằng khi quý vị CHÁNH TƯ DUY như thế này, quý vị đã thay đổi được rất nhiều được cái biết.

Và thay đổi đó, Ở mức độ đó, chấm dứt được những hành vi đó.

Cũng giống như quý vị thấy rằng, khi có văn tuệ và tư tuệ thì có thể đạt định bậc thánh nhập lưu. Chấm dứt thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Chỉ cần văn tuệ và tư tuệ thôi, chưa cần phải tu tập Bát chánh đạo. Tư tuệ cũng đã giải quyết được vấn đề rồi.

Cho nên quý vị phải dùng TƯ TUỆ này để phanh phui ra: đâu là cái biết sai về khổ vui, đâu là cái biết đúng về khổ vui. Lúc đó chấm dứt được những tà kiến về khổ vui. Quý vị phải quan sát từng cái một.

Khi quý vị đọc trên mạng, đọc các thông tin, quý vị cũng phải CHÁNH TƯ DUY với cái đó để thấy quan điểm này thấy khổ vui ở đâu, để thấy nó sai hay đúng.

Như hôm trước tôi nói, tôi vẫn đưa ra cái quan điểm: sống phải tha thứ. Quan điểm này được ca tụng, tha thứ là hành vi cao thượng. Khi tha thứ được cho người khác thì mình trở nên cao thượng, lúc đó mình sẽ hạnh phúc, mình sẽ hết khổ.

Và đương nhiên, kể cả giới Phật Giáo cũng cộng nhân đó là điều đúng. Nhưng mà quý vị sẽ thấy rằng, nếu như quý vị nhìn trên cái HIỂU BIẾT mới này về khổ vui, thì quý vị thấy rằng: khi nghĩ rằng tha thứ cho người kia thì phải hiểu rằng người kia làm khổ mình, người kia làm hại mình thì lúc đó mới tha thứ.

Còn người ta vô hại, không làm hại mình, không làm gì mình cả, thì làm gì có ý nghĩ là tha thứ cho người ta, phải không? Và như vậy có phải rằng thấy khổ vui là ở bên ngoài không?

Cho nên quý vị mới thấy rằng quý vị đọc cái gì, tham khảo cái gì thì quý vị phải CHÁNH TƯ DUY với cái đó. Lúc đó quý vị sẽ dần dần thanh lọc, xóa bỏ dần dần những vô minh về khổ vui.

Nhưng mà cái đó chưa đủ. Tuy rằng nó là bước thứ hai. Văn là nghe giảng đầu tiên, hai là tư: CHÁNH TƯ DUY, nó đã loại bỏ được rất nhiều cái VÔ MINH rồi, nhưng chưa đầy đủ, chưa toàn triệt. Mà phải là TU.

Tu thì cũng là trên cái đề tài này thôi. Khi mình thực hành tu, đặc biệt là đối với những sự việc, những đối tượng khốc liệt, mà khi mình thực hành thành công, thành công rồi nhưng phải CHÁNH TƯ DUY lại, trạch pháp rạch ròi giữa vô minh và minh về khổ vui.

Quý vị ăn cơm phải chờ đợi. Khi ăn cơm chờ đợi, thì lúc này hướng dẫn sự thực hành: cắn chặt răng, ngậm chặt lời, nhắc thầm, “thấy theo nhịp thở” để chờ đợi. Khi đó, mọi người thực hành được, thì lúc đó mới phân tích rằng: an trú cái thấy thuần túy. Cái thấy đó không còn thích chán ghét, không suy nghĩ một chuyện gì cả. Lúc đó không còn thích chán ghét chuyện gì, không có khổ vui chuyện gì, tâm an tịnh.

Đó là kết quả mọi người thực hành đều cảm nhận được, đều kinh nghiệm được kết quả đó. Nhưng mà khi thực hành rồi, thì cũng phải phân tích là lúc này AN TRÚ CÁI THẤY. Lúc này cái thấy đó không phát sinh tham sân si, ko phát sinh khổ. Phải liên hệ trước đây cũng chờ đợi, hễ chờ đợi, chờ đợi là nóng ruột là căng thẳng là mệt mỏi là khổ, trước kia cho rằng chờ đợi là khổ, mỗi khi chờ đợi đều cảm nhận được cái khổ. Cả nhân loại đinh ninh rằng: chờ đợi làm cho mình khổ, khổ là do chờ đợi. Thế nhưng bây giờ vẫn chờ đợi mà không có khổ, nếu khổ là do chờ đời thì BẤT KỲ LÚC NÀO cũng khổ đúng ko, sao trước kia khổ mà bây giờ chờ đợi không có khổ. Lúc đó mới rút ra kết luận: bây giờ không có chán ghét chờ đợi nên không có khổ, trước kia chán ghét chờ đợi mới phát sinh khổ.

Khi thực hành tuệ tri như vậy thì đó là TU TUỆ. Nếu như là nhiều lần, nhiều lần, mỗi 1 lần chờ đợi đều thực hành được, đều tuệ tri được như vậy thì thay đổi nhận thức mạnh hơn, nhanh hơn.

Không phải chỉ lúc thực hành công rồi tuệ tri, đó là TU TUỆ – tu tuệ này là trạch pháp chấm dứt hiểu sai. Kể cả khi tu thất bại cũng phải tuệ tri.

Đương nhiên là khi thất bại, đối diện với một việc gì đó, một cái khốc liệt nào đó, khi đối diện nếu không tu tập, cái hiểu biết sai vẫn khởi lên: khổ vui là ở bên ngoài. Những cái đối tượng đó, những cái công việc đó làm cho ta khổ. Lúc đó sẽ phản ứng bằng lời nói, hành động. Không những là cái khổ ban đầu đó, mà lời nói, hành động còn tăng cái khổ lên nữa. Cho nên khi thất bại như vậy, trong thời gian đó có tuệ tri được không? Tất nhiên là không. Trong thời gian đó nó vẫn nhấn chìm.

Nhưng có một trường hợp: sau khi sự việc xảy ra, khổ khởi lên cùng cực như vậy rồi, nhưng nó vẫn tiếp tục, vẫn dùng các cái hiểu biết này, dùng những lý luận dựa vào hiểu biết này, bào chữa cho những hành vi của mình, và chứng minh cho những hành vi của mình là đúng. Chuyện này quý vị THẤY ĐÓ là chuyện xảy ra trong cuộc sống. Khi quý vị sai lè lè, lộ trình tâm bát tà đạo sẽ biện minh, sẽ bào chữa, sẽ tìm đủ mọi lý lẽ để chứng minh là mình đúng. Lúc đó là không tuệ tri được.

Nhưng nếu là một người học rồi, cũng có thể giây phút đầu là như vậy, cũng có thể kéo dài. Nhưng nếu, một khoảng thời gian sau, 1 khoảng thời gian sau chánh niệm khởi lên được nhớ những điều đã học này, thậm chí có khi 2-3 ngày sau, có khi cả tuần sau mới khởi lên — khi khởi lên đó, thì mới tuệ tri khổ đế, Tập đế nó rõ ràng.

Mới tuệ tri là cái hiểu sai: là khổ vui ở nơi ngoại cảnh, gây cho mình những điều này. Cái đó có thể diễn ra nhanh hay chậm. Có khi hàng tháng sau mới làm được chuyện đó, có khi nhớ lại sau vài tiếng, có khi chỉ 5 phút là tuệ tri được, chánh niệm khởi lên được.

Và nếu thực sự tiến triển thì thời gian sẽ càng rút ngắn lại. Nhưng quý vị đừng coi thường cái tuệ tri trong trường hợp này — nó cũng ngang với tuệ tri khi quý vị thực hành thành công.

Cho nên vấn đề là thay đổi cái nhận thức, mà căn bản nhất là nhận thức về khổ vui. Nếu quý vị thay đổi được, thì khi nhìn bất kỳ sự việc gì, quý vị cũng biết được rằng khổ vui không ở trong đó, không có ai làm khổ ai cả, mà lộ trình tâm người đó khởi lên khổ vui.

Lúc đó hiểu biết như vậy rồi thì cũng hiểu rằng: chẳng ai làm khổ mình cả, kể cả mình cũng chẳng làm khổ ai cả.

Mình phải nói hai việc: con người cho rằng người ta làm khổ mình, làm cho mình vui. Cũng đồng nghĩa mình có thể làm cho người khác khổ, làm cho người khác vui.

Còn bây giờ hiểu biết như vậy thì nói rằng: chẳng ai làm mình khổ vui cả, mà mình cũng chẳng làm ai khổ vui cả.

Khổ thân và Khổ Tâm

Tuy thế quý vị cũng phải hiểu như thế này: chúng ta cần nhìn đầy đủ. Trong bài về khổ, chúng ta có nói đến khổ thân. Nếu nói về khổ thân, có thể là người này người kia tác động vật lý đến thân thể, có thể làm khổ – vui về thân.

Nhưng đó thuộc về thân thôi, không phải là tâm. Cho nên người ta cũng có thể giúp người khác khổ – vui, nhưng chỉ ở mức độ thân, chỉ chiếm 5–10% cuộc sống thôi.

Ở đây chúng ta cần phân biệt rõ điều đó. Nếu nói rằng chẳng ai làm mình khổ vui cả, Mình cũng chẳng ai làm ai khổ vui cả — là chúng ta nói riêng về lĩnh vực KHỔ TÂM. Còn khổ thân thì cần nhìn đầy đủ hơn.

Cho nên ví dụ như giúp ai cái gì v.v., thì cũng chỉ là giúp người ta giảm thiểu được khổ thân thôi. Và nếu phóng đại lên, cũng chỉ giải quyết được 5–10% nỗi khổ của con người. Không phải là nỗi khổ chính. Nỗi khổ chính là KHỔ TÂM.

Kết luận

Ở đây chúng ta nói về Tuệ căn bản, và quý vị cần phải tập trung vào vấn đề này. Những vấn đề khác như duyên khởi v.v. cũng cần thiết, nhưng quý vị phải thấy rằng giải quyết việc này cũng không phức tạp lắm đâu.

Chỉ cần quý vị biết đến điều căn bản quan trọng này, tập trung giải quyết điều này trước tiên. Như tôi đã nói: văn – tư – tu, không được bỏ qua cái nào cả. Phải thật sự chú ý đến cả ba.

Và đặc biệt là đầu tiên quý vị phải giải quyết vấn đề này: giải quyết cái căn bản – cái hiểu biết về khổ vui. Phân biệt rõ ràng, rồi từ từ từng chút một, từng lĩnh vực một, xóa bỏ hiểu biết sai về khổ vui.

Đương nhiên quý vị sẽ thấy rằng khi xóa được hiểu biết sai về khổ vui, thì phải dựa trên hiểu biết đúng về khổ vui. Cho nên là cả hai — không phải chỉ xóa cái này mà không tăng trưởng cái kia. Cả hai đồng thời. Không phải chỉ chú ý đến xóa cái khổ vui mà không tu tập tuệ tri minh về khổ vui. Cả hai đi liền nhau.

Những sự thật này rõ ràng. Như tôi nói: sự thật trần trụi, không bị che đậy bởi bất kỳ điều gì.

Sự thật này rất rõ ràng, sự thật trần trụi, không bị che đầy bởi bất kỳ điều gì. Sự thật trần trụi như vậy. Không ai có thể chối bỏ được sự thật này.

Vì vậy quý vị nhớ đến việc thực hành: tiến trình văn – tư – tu. Để quý vị THỰC HÀNH. Chỉ có THỰC HÀNH như vậy mới xóa bỏ được vô minh, mới làm cho minh khởi lên. Chỉ cần như vậy cũng đủ giải quyết được khổ rồi.

Cho nên quý vị thấy rằng: chỉ cần thay đổi cái hiểu biết này là giải quyết được mọi vấn đề. Bởi vì vấn đề của con người là vấn đề khổ – vui.

Quý vị thấy: vấn đề cuộc sống là vấn đề khổ vui. Giải quyết được việc đó là xong. Rất đơn giản. Vì hiểu sai về khổ vui nên không giải quyết được. Phải hiểu đúng về khổ vui thì giải quyết được vấn đề cuộc sống.

  • Thiền Sư Nguyên Tuệ –

Để lại một bình luận