Hỏi đáp Bài 13 – TÂM GIẢI THOÁT – TUỆ GIẢI THOÁT
Câu 1: Giải thoát là gì và có thể đạt được sự giải thoát khi nào?
Trả lời:
Quý vị thấy rằng Bát Tà Đạo là ràng buộc. Ràng buộc là như thế nào? Ví dụ, quý vị đi làm một công việc gì, lúc đầu quý vị thích thú nên làm việc tích cực, vui vẻ, thoải mái. Nhưng một thời gian sau, quý vị chán, muốn tìm việc khác. Khi không tìm được việc khác, quý vị vẫn phải tiếp tục làm công việc đó, thì quý vị ghét. Khi quý vị chán ghét công việc đó, không muốn làm nhưng vì ràng buộc với cuộc sống, tiền lương, gia đình, con cái, học hành của con cái, các phương tiện đi lại, nghe nhìn, v.v…, quý vị vẫn phải tiếp tục làm công việc đó. Vì ràng buộc phải làm, quý vị làm việc trong trạng thái mệt mỏi, căng thẳng, áp lực. Quý vị hiểu rằng cuộc sống con người là ràng buộc và do ràng buộc mà đau khổ.
Vậy giải thoát là gì? Khi làm một công việc, quý vị không thích nó, cũng không chán ghét nó. Nhưng quý vị làm với Chánh định, quý vị làm với tâm trạng tích cực, vui vẻ, thoải mái. Quý vị không còn căng thẳng, mệt mỏi, áp lực. Quý vị không thích nên không ràng buộc, không chán ghét nên cũng không ràng buộc. Đó gọi là quý vị không yêu thích, không chán ghét, độc lập, không ràng buộc, giải thoát, không hệ lụy với công việc đó.
Khi quý vị có lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, khi quý vị có định, quý vị không yêu thích, không chán ghét, độc lập, không ràng buộc với các đối tượng đó. Lúc đó quý vị có giải thoát, cái giải thoát đó gọi là Tâm giải thoát. Rồi khi quý vị có tuệ, có Chánh kiến khởi lên, lúc đó quý vị cũng kinh nghiệm không yêu thích, không chán ghét, độc lập, không ràng buộc, giải thoát, không hệ lụy với các đối tượng đó. Lúc đó quý vị an trú trong giải thoát. Giải thoát đó gọi là tuệ giải thoát.
Và khi quý vị có lời nói, hành động Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, lúc đó quý vị cũng kinh nghiệm độc lập, không ràng buộc, giải thoát, không hệ lụy với các đối tượng đó. Thì đó gọi là Vô tác giải thoát. Cho nên, trong Phật giáo có cái gọi là Tam Giải Thoát: đó là Không Giải Thoát, Vô Tướng Giải Thoát, Vô Tác Giải Thoát. Không giải thoát chính là Tâm giải thoát, Vô tướng giải thoát còn gọi là Tuệ giải thoát.
Câu 2: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc thực sự
Thưa sư, nếu bản thân những người bị áp bức, họ mang Tâm giải thoát, không chống đối, không thay đổi hoàn cảnh, nếu họ không vướng mắc, độc lập, cũng không tinh tấn tìm cầu, nằm gai nếm mật tìm đường cứu đồng loại, đồng bào, cứu đất nước, không có những người Tà tinh tấn này thì đã có một số dân tộc, đất nước, loài vật thật sự tuyệt chủng. Mong sư khai thị.
Trả lời:
Thì đó, những nỗi đau, tàn sát, chiến tranh… là bản chất của lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Hôm trước có một câu hỏi, đề cập đến vấn đề độc lập, tự do, hạnh phúc. Mơ ước thẳm sâu của con người, phấn đấu nỗ lực là để đạt được độc lập, tự do, hạnh phúc. Đây là một tư tưởng trong tâm thức của tất cả mọi người, nhưng chỉ có một số người xuất sắc mới diễn nói được khao khát đó của nhân loại. Nhân loại sống mơ ước một cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc. Nhưng đó chỉ là mơ ước suông thôi, chứ nhân loại không bao giờ đạt được độc lập, tự do, hạnh phúc cả. Vì lộ trình tâm của nhân loại là Bát Tà Đạo, nhân loại luôn luôn là nô lệ, không bao giờ độc lập, tự do được.
Con người chỉ hiểu độc lập, tự do là là thoát khỏi áp bức, bất công của xã hội, giữa giai cấp này với giai cấp kia, mà không nhận thức được một cách sâu sắc rằng, toàn thể nhân loại này, ngoại trừ các bậc thánh, thì đều nô lệ bởi tham ái. Con người bị tham ái trói buộc, dẫn dắt, lôi kéo đi trong cuộc đời này. Và sự nô lệ đó là vĩnh viễn, vì con người là nô lệ của tham ái. Và vì tham ái là nguyên nhân khổ, nên con người không bao giờ đạt được hạnh phúc thực sự liên tục và bền vững.
Chỉ khi nào quý vị thực hành Bát Chánh Đạo, lộ trình tâm là Bát Chánh Đạo, thì trong thời gian an trú Bát Chánh Đạo, lúc đó mới kinh nghiệm cuộc sống đó hoàn toàn là độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự. Cho nên, cái mà quý vị nêu lên đó: cho dù con người có Tà tinh tấn, có nỗ lực, cố gắng như thế nào, thì những nỗ lực cố gắng hy sinh, chịu đựng đó cũng là do tham ái mà khởi lên, bị tham ái sai khiến, sai xử… đó là nô lệ của tham ái. Và tham ái đó là nguyên nhân của mọi nỗi khổ đau trên thế gian này. Tham ái mới gây ra chiến tranh, đàn áp, mưu mô, xảo quyệt, cạnh tranh… đủ các thứ đau khổ.
Quý vị phải hiểu, con người thì mơ ước độc lập, tự do, hạnh phúc, nói đơn giản là mơ ước Hết Khổ Được Vui, nhưng không bao giờ đạt được điều đó. Chỉ có Bát Chánh Đạo, khi học, hành đúng thì kết quả của việc học, việc hành đó là Tâm giải thoát – Tuệ giải thoát, mà nói theo ngôn ngữ bình thường là độc lập, tự do, hạnh phúc – hạnh phúc ở đây là hạnh phúc Chánh định, của sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Câu 3: Tâm giải thoát chỉ để nhiếp phục Vô minh, Tham Sân Si thôi, hết lại khởi lên Tham Sân Si. Vậy bỏ Tâm giải thoát tu tập Tuệ giải thoát có được không ạ?
Trả lời:
Tâm giải thoát giúp cho quý vị đạt được Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây. Rõ ràng nó cũng rất quan trọng. Mục đích tu tập là để Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây, vậy tại sao có thể bỏ qua nó được?
Tu tập Định để có Tâm giải thoát, để kinh nghiệm chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây, giúp cho người đó kinh nghiệm được một lối sống luôn ở trong tâm trạng tích cực, vui, thoải mái, để có thể sống, học tập, làm việc một cách tích cực, vui, thoải mái, thì sẽ có năng suất, chất lượng cao hơn. Như vậy là sống một đời sống vui vẻ, thoải mái. Tâm giải thoát làm được việc đó thì có phải là nó cũng rất quan trọng không? Chứ không phải là không quan trọng.
Nhưng chúng ta thấy rằng, đó là ở những trường hợp là cảm giác vừa vừa và cao một chút, còn những Cảm thọ quá khốc liệt thì Định này không thể nào giải quyết được. Vì khi thân thể có những Cảm thọ đau đớn khốc liệt thì không thể nào vào định được. Lúc đó chỉ có Tuệ giải thoát mới giải quyết được khổ đó thôi.
Tu tập Định – Tâm giải thoát rất quan trọng, 70-80% những sự việc trong đời có thể giải quyết, có thể Hết Khổ Được Vui bằng Tâm giải thoát. Những ai, dù học Pháp này rất thành thạo, rất tốt rồi, nhưng không có được định thì dần dà họ cũng xa rời, lui sụt, rơi rớt ra khỏi Giáo Pháp này. Còn người nào mà tu tập định tốt, cuộc sống thay đổi ngay thì họ cảm thấy hoan hỉ, họ tiếp tục nỗ lực phấn đấu. Nhờ như vậy, tuệ của họ dần dà cũng tăng trưởng.
Chỉ có Tuệ giải thoát mới cắt đứt gốc rễ là Vô minh, Chấp ngã trong bộ nhớ. Cho nên chúng ta đâu có phủ nhận việc tu tập tuệ, mà là vừa Tu Tập Tâm vừa Tu Tập Tuệ.
Câu 4: Tu Chỉ và Tu Quán
Tu Chỉ hay Tâm giải thoát thì bản ngã có thể còn lớn hơn thì vì sao bước đầu hướng dẫn khóa thiền không đi vào Tu quán Tuệ giải thoát luôn? Đi kèm đó là có người khó thực hành tu chỉ hơn tu quán, nên vài ngày đầu sẽ hơi khó khăn và dễ rời bỏ khóa thiền lợi lạc.
Trả lời:
Nói rằng, khi tu Chỉ là tăng cường bản ngã, thì không chính xác. Nếu chỉ tu Chỉ không thôi, và khi rời tu Chỉ đó, ngừng tu, thì lúc đó Bát Tà Đạo khởi lên, lúc đó bản ngã được tăng cường, Chấp ngã lớn hơn, vì nó có chất liệu là Ta đã đạt được các tầng thiền. Nhưng đó là khi không tu. Chứ không phải là tu Chỉ làm tăng cường bản ngã.
Khi tu Chỉ, an trú cái Thấy thuần túy Tỉnh giác thì lúc đó đâu có Bản ngã, đâu có tư tưởng chấp thủ, lúc đó là giải thoát. Nhưng lộ trình tâm đó không được liên tục, lúc có Bát Chánh Đạo thì có giải thoát, không có bản ngã, nhưng hết thực hành, chỉ dừng lại ở tu Chỉ, thì Bát Tà Đạo lại khởi lên, lúc đó là Chấp ngã mạnh hơn lúc trước. Chứ không phải tu Chỉ là làm bản ngã tăng trưởng.
Nếu không tu Chỉ thì không tu Quán được. Vì tu Quán là phải nhất tâm. Tu Định đưa đến Nhất tâm. Tu Quán là phải Chánh tư duy, nhưng tư duy nhất tâm trên đề mục đó. Còn Bát Tà Đạo thì tư duy từ đối tượng này sang đối tượng khác, chuyện này sang chuyện khác. Người bình thường là suy nghĩ liên tục, dẫn đến hội chứng overthinking… là do không có định, nên không tư duy trên một vấn đề mà nó lan man, không thể nào tu Quán được.
Câu 5: Làm thế nào để xóa thông tin cũ trong kho chứa?
Trả lời:
Quý vị không phải là xóa các thông tin trong kho chứa, không có cách nào là xóa được cả. Mà ở đây là quý vị thực hành Bát Chánh Đạo để thanh lọc các thông tin đó. Đối với Bát Tà Đạo thì các thông tin đó là nghiệp. Còn đối với Bát Chánh Đạo thì các thông tin đó được thanh lọc khỏi Vô minh, Chấp ngã nên nó không còn là nghiệp nữa.
Quý vị hiểu thế này: Ví dụ, quý vị đã nghe chuyện cô Nụ đó. Anh thanh niên này trước đây anh ta có hiểu biết rằng cô Nụ là cháu của ông già và thông tin đó được lưu vào bộ nhớ. Đến khi anh ta nghe sự thật thì cái Biết biết đúng sự thật “cô Nụ là vợ ông già”. Khi biết đúng sự thật đó thì cái Biết cũng sẽ khẳng định thông tin “cô Nụ là cháu ông già” là sai.
Thế nhưng, quý vị sẽ thấy, khi anh ta hiểu biết đúng rồi, thông tin “cô Nụ là vợ ông già” được kích hoạt và anh ta sẽ sống với hiểu biết đó. Nhưng thông tin “cô Nụ là cháu ông già” thì vẫn có mặt ở trong bộ nhớ đó, nó không bị xóa. Nhưng khi nó khởi lên thì cái Biết đúng sự thật lại khởi lên biết thông tin đó là sai sự thật. Đó là cách thanh lọc thông tin chứ không phải xóa bỏ thông tin trong bộ nhớ.
Câu 6: Một người không được học đầy đủ về Văn tuệ mà chỉ thực hành liên tục về cái Thấy thì có đưa đến giác ngộ hoàn toàn không?
Trả lời:
Thực hành cái Thấy là để tách cái Thấy ra khỏi cái Biết, lúc đó kinh nghiệm được cái Thấy thuần túy, kinh nghiệm được cái Thấy đó không phát sinh Tham Sân Si, kinh nghiệm được giải thoát. Đó là thực hành chi phần Định, thực hành Chỉ. Như vậy, chỉ khi nào thực hành thì có giải thoát, dừng thực hành thì không có giải thoát.
Chỉ khi nào mà thực hành Quán, tức thực hành Tuệ (Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ), lúc đó Chánh kiến khởi lên, mới có Tuệ giải thoát. Lúc này, cái Tuệ mới đưa đến giải thoát hoàn toàn, (tạm gọi) mới đưa đến các quả A la hán…
Định không đưa đến các quả giác ngộ, mà chỉ có Tuệ mới đưa đến quả giác ngộ.
Thực hành định là thực hành để kinh nghiệm cái Thấy thuần túy, chỉ khi nào thực hành thì có giải thoát, ngừng thực hành thì không. Nó cũng không thể liên tục được. Đối với phần định này chỉ đối trị được với các cảm giác trung bình, khá thôi, còn với đối tượng khốc liệt thì định này chưa đủ sức mạnh để vượt qua được nó. Mà chỉ có Tuệ, phải thực hành quán Thọ, Tâm, Pháp thì mới vượt qua, mới là giải thoát tối hậu.
Quý vị thấy, Tuệ có 3 cấp độ: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ và Tư tuệ là nền tảng để nâng cấp lên thành Tu tuệ hiện hữu trong cuộc sống. Cho dù quý vị học, hành, có được những cái Tuệ, nhưng quý vị phải nâng cấp thì mới trạch pháp rõ ràng, đầy đủ.
Yếu tố giác ngộ thứ hai là yếu tố trạch pháp giác chi: phải phân biệt được Vô minh và Minh, thì lúc đó mới trạch pháp được. Nhưng quý vị cũng đừng có quan tâm nhiều lắm đến quả vị. Chúng ta quan tâm đến chấm dứt Khổ đến mức độ nào để tiếp tục thực hành, chứ không quan tâm đến quả vị hay đột chuyển gì đó. Nó có quy luật, mà duy vật biện chứng cũng phát hiện được khía cạnh của nó: lượng đổi thì chất đổi – khi đủ lượng thì tự nhiên chất sẽ thay đổi. Khi quý vị tu tập đủ mức thì đột chuyển sẽ tự động xảy ra thôi, không cần quan tâm đến nó. Đã là quy luật rồi thì chúng ta cứ làm theo quy luật thôi, làm đúng thì nó sẽ tự động xảy ra.
Chỉ quan tâm đến làm đúng. Còn đến bao giờ đủ thì không cần quan tâm. Khi nào đủ thì sẽ đột chuyển. Chỉ cần quan tâm: giảm thiểu khổ được bao nhiêu, đến mức độ nào.
Thiền sư Nguyên Tuệ

