Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 14 – BÀI KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 14 – BÀI KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 14 – BÀI KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN

Câu 1:  Phân biệt phàm phu và hữu học

Bài kinh “Pháp môn căn bản” mở đầu nói phàm phu không thấy nghe các bậc thánh, tức là không nghe và học lời giảng Đức Phật. Vậy tức là chỉ cần đi nghe bài giảng khóa tu 9 ngày này thì không phải phàm phu nữa? Hữu học là người có Tỉnh giác nhưng không thường xuyên có Chánh kiến, tức là giống như các thiền sinh đang tham dự 9 ngày này là Hữu học, mỗi lần thực hành thấy có Tỉnh giác lúc đó là Hữu học rồi có phải không?

Trả lời:

Quý vị phải hiểu rằng Hữu học là đang học và tu tập đạo Phật, nhưng phải là đạo Phật thật, chứ không phải là những kiến thức Tà kiến đâu. Còn những vị nào đã tu tập xong rồi, như trong Phật giáo nói là các vị A La Hán, đã đoạn tận Vô minh, đoạn tận Tham, Sân, Si thì lúc đó gọi là Vô học. Vô học có nghĩa là không phải học, không phải tu nữa, chứ không phải là nghĩa Vô học theo thế gian là không có học thức, không biết gì cả. Cho nên, quý vị phải hiểu khái niệm Hữu học trong Phật giáo là đang học, đang tu, còn Vô học là xong rồi, không phải học, không phải tu nữa.

Hữu học là gì?

Trong kinh “Pháp môn căn bản” nói rằng phàm phu là không được nghe pháp các bậc thánh, không thuần thục pháp các bậc thánh, không tu tập pháp các bậc thánh. Ngược lại, người không phải phàm phu là được nghe pháp các bậc thánh, thuần thục pháp các bậc thánh, và tu tập các pháp các bậc thánh.

Nhưng ẩn trong này, quý vị phải hiểu: “Nghe pháp các bậc thánh” là có hiểu biết đúng sự thật, tức gọi là Văn Tuệ; “Thuần thục pháp các bậc thánh” tức là tư duy rồi hiểu biết đúng sự thật do tư duy về những điều đã học, thì đó gọi là Tư Tuệ; Còn khi tu tập khởi lên hiểu biết đúng sự thật thì đó gọi là Tu Tuệ.

Cho nên, phải hiểu rằng đã là Hữu học trong khái niệm này thì phải là người có Trí tuệ. Và người có trí tuệ thì có thể nằm ở ba cấp độ:

  1. Mức độ thứ nhất: Mới chỉ có Văn Tuệ, hoặc một phần Văn Tuệ (chứ chưa phải có tất cả Văn Tuệ).
  2. Mức độ thứ hai: Người có Văn Tuệ và có Tư Tuệ.
  3. Mức độ thứ ba: Người vừa có Văn Tuệ, vừa có Tư Tuệ, vừa có Tu Tuệ.

Hữu học cũng có các mức độ khác nhau như vậy.

Quý vị phải thấy, cho dù một người nghe giảng về Giáo Pháp cả ngàn năm đi chăng nữa, nhưng không có hiểu biết đúng sự thật thì vẫn là phàm phu thôi, chứ không được gọi là Hữu học. Hữu học là phải có Trí tuệ. Có thể ở cấp độ thấp nhất là mới có một phần trí tuệ, một phần hiểu biết đúng sự thật do nghe giảng, do đọc kinh điển, thì vẫn là Hữu học.

Thí dụ như, một người Hữu học là phải hiểu biết đúng sự thật: nguyên nhân của khổ là do Vô minh, là do hiểu biết sai sự thật, là do Tham, Sân, Si. Nếu như có Văn Tuệ đó, có hiểu biết đó do nghe giảng, thì hiểu biết đó được lưu vào bộ nhớ, nó khởi lên. Và người đó hiểu biết rằng nguyên nhân khổ không phải là do nghèo đói, không phải là do bệnh tật, không phải là do thiếu phước, không phải là do gì gì ở quá khứ… Mà nguyên nhân khổ là Tham, Sân, Si.

Một người có hiểu biết tối thiểu như vậy, người đó mới là Hữu học. Còn cho dù là học, đọc bao nhiêu kinh điển, làm ra bài luận này bài luận kia, thậm chí đạt đến tiến sĩ Phật học, nhưng vẫn cho rằng nguyên nhân khổ là nghèo đói, nguyên nhân khổ là bệnh tật, nguyên nhân khổ là do thiếu phước, cho nên bây giờ phải đi làm phước thì tương lai mới chấm dứt được khổ… cho dù là tiến sĩ Phật học mà hiểu như vậy thì vẫn là phàm phu thôi, bởi vì không có Văn Tuệ.

Cho nên, quý vị phải hiểu Hữu học là phải có Văn Tuệ, Tư Tuệ, Tu Tuệ với các mức độ khác nhau, nên Hữu học cũng rất khác nhau. Còn khi Vô học là không phải học, không phải tu nữa, thì lúc đó các vị A La Hán đều giải thoát như nhau.

Câu 2:  Giáo dục cành ngọn và giáo dục gốc rễ

Bạch sư, con là giáo viên dạy môn Khoa học Tự nhiên. Bây giờ con nhận thấy kiến thức của mình đã giảng dạy cho học sinh bao năm nay là không đúng sự thật. Ví dụ, năm nào con cũng cho học sinh thi định luật bảo toàn năng lượng: “Năng lượng không tự sinh ra, không tự mất đi mà chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác hoặc truyền từ vật này sang vật khác.” Con cho đó là định luật cốt lõi của tự nhiên. Con bây giờ cảm thấy hoang mang, vì con nghĩ mình là người mang lại kiến thức cho học sinh thì đang giúp cho các em, nhưng lại gieo nhân khổ cho các em, vì tiếp thu kiến thức càng Vô minh càng khổ. Xin sư chỉ dạy cho con, bây giờ con phải giảng dạy như thế nào cho đúng? Đây là cốt lõi của giáo dục.

Trả lời:

Bây giờ quý vị sẽ thấy, giáo dục của nhân loại và của các tôn giáo, mà thậm chí là của Phật giáo hiện nay, là giáo dục nơi cành ngọn, giáo dục nơi thái độ, nơi lời nói hành động, nơi kết quả. Đó là giáo dục cành ngọn.

Mà phương pháp giáo dục của Đức Phật là giáo dục gốc rễ – giáo dục tâm Thấy – tâm Biết để thay đổi tâm Thấy – tâm Biết. Đây là một điều hoàn toàn khác biệt với nền giáo dục thế gian. Nền giáo dục thế gian, tuy là giáo dục cành ngọn, giáo dục thái độ, giáo dục lời nói hành động, giáo dục kết quả Khổ Vui, nhưng mà nó lại dựa trên nền tảng gốc rễ là tâm Thấy và tâm Biết Vô minh, Chấp ngã. Cho nên, nếu gốc rễ là tâm Thấy – tâm Biết đó không thay đổi, thì cành ngọn dù có thay đổi, nhưng kết quả là vẫn tiếp thu trên nền tảng Vô minh, Chấp ngã. Và nó chỉ đổi khổ này lấy khổ khác chứ không bao giờ chấm dứt được khổ.

Bây giờ quý vị tiếp thu nền giáo dục này, như trong bài kinh Pháp môn căn bản, thì giáo dục này là giáo dục nền tảng, giáo dục gốc rễ để thay đổi tâm Thấy và tâm Biết. Khi tâm Thấy – tâm Biết thay đổi, thì cành ngọn, thái độ, lời nói hành động, kết quả sẽ thay đổi liền.

Cho nên, chỉ cần tác động vào gốc rễ là tâm Thấy – tâm Biết, thay đổi gốc rễ là tâm Thấy – tâm Biết, thì thái độ, lời nói, hành động và kết quả sẽ tự động thay đổi theo – thay đổi một cách toàn diện, thay đổi một cách tốt đẹp.

Đương nhiên, đây là lần đầu tiên quý vị tiếp cận với phương pháp giáo dục này. Và tôi cũng nói với quý vị, có thể đây là lần đầu tiên phương pháp giáo dục gốc rễ này được Gosinga triển khai, và Gosinga đang triển khai để đóng gói chương trình giáo dục gốc rễ này, để có thể phổ biến, thay đổi nền giáo dục nhân loại – chuyển từ giáo dục cành ngọn sang giáo dục gốc rễ. Đây là một quá trình dài, cần phải đủ môi trường, cần phải có nhân duyên. Nó tiến triển như thế nào, diễn ra như thế nào thì bản thân Gosinga cũng không thể làm chủ, không thể điều khiển được, mà nó tùy thuộc vào nhân duyên.

Đương nhiên là quý vị băn khoăn, quý vị có thể tìm hiểu. Nhưng mà rõ ràng là chúng ta chưa thể nào thay đổi được nền giáo dục nhân loại là giáo dục cành ngọn.

Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu: những tri thức, kiến thức của nhân loại mà thay đổi được thế giới vật chất thì có thể giúp cho con người giảm thiểu được 5-10% nỗi khổ thân. Các kiến thức đó cũng là khoa học thực nghiệm, cũng quan sát quy trình duyên khởi – hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mới phát sinh ra quả – được diễn tả bằng các công thức. Nhưng mà khi giải thích thì nó lại nhuốm màu Vô minh, Chấp ngã.

Vậy thì, đương nhiên là học sinh phải học những kiến thức này, nó nhuốm màu Vô minh, Chấp ngã. Còn đến một lứa tuổi nào đó thì lúc đó học Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo này mới thanh lọc Vô minh, Chấp ngã trong những kiến thức đó. Và khi những kiến thức đó được thanh lọc khỏi Vô minh, Chấp ngã, thì những kiến thức đó lại là trí tuệ, lại giúp cho con người không những là giảm thiểu khổ thân, mà còn chấm dứt được khổ tâm nữa.

Cho nên quý vị phải hiểu điều này, rồi quý vị sẽ từ từ nghiên cứu, đi sâu để có thể đóng góp vào nền giáo dục gốc rễ. Và đối với nền giáo dục gốc rễ, nếu như được tiếp thu (bây giờ tối thiểu là phải cấp hai trở lên mới triển khai được chương trình này) thì ngay khi mà được học theo cách này, bản thân những kiến thức đó phần nào đã được thanh lọc khỏi Vô minh, Chấp ngã. Cho nên sẽ có một kết quả toàn diện – thay đổi về tâm thức.

Đây là một điều cũng cần phải có thời gian, có góp sức của nhiều người, có tâm huyết của nhiều người, và có nhân duyên nữa.

Câu 3:   Người giác ngộ có năng lực khác người thường?

Thưa thầy, con có theo dõi và biết một số vị thầy Ấn Độ, những gì họ nói thì về cơ bản là giống như thầy nói, và họ cũng công nhận con đường của Phật là đúng. Nhưng mà họ bảo là giống như mình có thể đi từ đây về Hà Nội theo một con đường và cũng có nhiều con đường khác, về cơ bản thì đích đến là như vậy. Và con đọc có hiện tượng là những người giác ngộ thì năng lượng của họ hoạt động theo một cách rất khác so với người bình thường, vì vậy nên có một số hiện tượng mà mình tạm gọi là kỳ lạ hoặc siêu nhiên xảy ra xung quanh họ. Ví dụ như khả năng nhận biết của họ với các đối tượng xung quanh tăng lên rất nhiều, và họ thấy sự màu nhiệm. Không phải sự màu nhiệm của một thế giới nào khác, mà ví dụ như là sự màu nhiệm của việc mình ăn một hạt gạo, hạt gạo đấy biến thành cơ thể của con người. Bây giờ một người nam ăn một hạt gạo, biến thành cơ thể của người nam; người nữ ăn một hạt gạo biến thành cơ thể người nữ, đấy là sự màu nhiệm của tạo hóa này, tạo hóa này diễn ra như thế. Thầy có thể giải thích gì về kinh nghiệm của thầy ạ?

Trả lời:

Quý vị phải hiểu rằng: khoan vội tin cái gì cả, nhưng mà cũng khoan vội bác bỏ cái gì cả. Những điều đó là quý vị đọc trong sách, chứ quý vị không mắt thấy tai nghe những cái đó. Mà dù loài người mắt thấy tai nghe mọi hiện tượng thì họ đều hiểu sai cái hiện tượng đó, phải không? Ai cũng tin rằng ngọt nằm trong đường, mặn nằm trong muối, ngon dở nằm trong thức ăn, nóng nằm trong lửa, lạnh nằm trong nước đá. Đó là hiểu biết mặc định của thế giới, của thế gian này. Và sự thật đó tôi khẳng định rằng 100% là không ai biết, ngoại trừ Đức Phật và những người hiểu được lời Đức Phật, còn tất cả đã mặc định là ngọt nằm trong đường, mặn nằm trong muối, ngon dở nằm trong thức ăn, nóng nằm trong lửa, lạnh nằm trong nước đá.

Ở đây quý vị học, quý vị được hướng dẫn quan sát, quý vị biết sự thật là ngọt, mặn, chua, cay, v.v… những cái đó là cảm giác, do duyên Căn – Trần tiếp xúc mà phát sinh, nó không phải là tính chất vật chất. Quý vị biết như thật như vậy, nhưng bây giờ nếu như quý vị ra nói với những người bình thường là ngọt không nằm trong đường, mặn không nằm trong muối… thì chắc chắn họ nói là đưa quý vị đi nhà thương điên, phải vậy không? Nhưng thực sự là ai điên đây?

Quý vị mới thấy rằng, có những chuyện trên trời dưới đất, nói là vi diệu màu nhiệm, ai mà chẳng nói được. Nghĩa là người đó tưởng tượng giỏi, hay nói thuyết phục như nhà văn, thế là ai cũng tin. Vì sao? Vì có ai kiểm chứng được, mắt thấy tai nghe đâu mà không tin. Nói những điều kỳ diệu, màu nhiệm ở trên trời, dưới đất, nhưng mà cái hàng ngày thấy, nghe, cảm nhận đây này, cái mắt thấy tai nghe đây này: ngọt không nằm trong đường, mặn không nằm trong muối… thì gần như là không ai thấy, không ai biết.

Quý vị phải hiểu rằng, đối với tri thức nhân loại thì hãy cẩn thận, khoan vội tin nhưng mà cũng khoan vội bác bỏ, phải nghiên cứu cho kỹ. Quý vị thấy có hai nguyên lý hiểu biết: một là Tâm Biết Cảnh, hai là Tâm Biết Tâm. Những đối tượng của thực tại là tâm thì hiểu biết Tâm Biết Tâm mới là đúng sự thật, còn những hiểu biết nào Tâm Biết Cảnh thì chắc chắn nó là Vô minh. Quý vị cứ lấy tiêu chuẩn đó, quý vị đọc sách, quý vị quan sát, cái nào mà diễn tả theo kiểu Tâm Biết Cảnh thì đó là Vô minh, không đúng sự thật; cái gì là Tâm Biết Tâm thì lúc đó mới là sự thật.

Cũng có rất nhiều người trong Phật giáo nói rằng có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, cái đích đến có đó mà có nhiều đường đi đến đích lắm. Quan điểm này là chung, tất cả những người học Phật, kể cả Bắc tông lẫn Nam tông thì đều quan điểm như vậy: Đường thì có nhiều đường, đích thì chỉ có một, nhưng mà nhiều con đường đi đến đích đó.

Khi quý vị quan sát thì chỉ có hai con đường thôi, con đường đó là lộ trình tâm: con đường Bát Tà Đạo và con đường Bát Chánh Đạo. Điều này Đức Phật đã khẳng định trong kinh pháp cú, có con đường hai ngả: “Đường này đến thế gian, Đường kia đến Niết bàn, Tỷ kheo đệ tử Phật, Phải ý thức rõ ràng”.

Cái đích của con người là gì? Là chấm dứt khổ. Kể cả cái đích này có phải là tất cả mọi người đều hiểu sai không? Chỉ trừ Phật và các bậc giác ngộ thôi, còn như trong bài Mục đích cuộc sống mà tôi đã phân tích, tất cả nhân loại này hiểu rằng mục đích cuộc đời là tận hưởng niềm vui hạnh phúc. Cái đích đến mà tất cả đều nhận thức như vậy, còn sự thật đích đến là chấm dứt khổ, chấm dứt Luân hồi tái sinh. Cái đích này chỉ có một mình Phật mới phát hiện, nói ra.

Quý vị thấy rằng, ngay cái đích đến của cuộc đời mà toàn thể nhân loại biết sai, đích đến còn không hiểu, còn nói rằng có đích đến và đi đến đích đó bằng nhiều con đường khác nhau, tu nhiều pháp môn khác nhau đều đi đến đích cả. Quý vị học rồi, chỉ có hai con đường thôi, một đường đi đến thế gian, đi đến Luân hồi sinh tử, còn một đường duy nhất là Bát Chánh Đạo đi đến cái đích là chấm dứt khổ, là mục đích cuộc đời này, không có con đường thứ hai nào khác.

Quý vị học bài Pháp môn căn bản, quý vị có thấy mô tả đường của vị hữu học, của vị A la hán, của Phật đều là một đường không? Đều là một đường duy nhất thôi. Qua mô tả đó, quý vị thấy giống nhau, vị hữu học hay là vị A la hán, hay là Phật thì đều nói rằng: Do vị đó thắng tri đối tượng mà không nghĩ đến đối tượng, không đối chiếu tự ngã với đối tượng, không nghĩ đối tượng là của Ta, không dục hỷ đối tượng. Vị hữu học, vị A la hán hay là Phật đều như vậy, chỉ có một đường duy nhất thôi chứ không có một con đường thứ hai.

Quý vị thấy, khoa học và thế giới này cho rằng thế giới mà mình đang sống, thực tại là thế giới ngoại cảnh – những gì mình thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, mình yêu ghét, mình muốn chiếm hữu, sở hữu, lời nói hành động của mình đối xử hay là kết quả của mình là đối với thế giới vật chất. Cái mình thấy, nghe, ngửi, nếm là thế giới vật chất; cái mình hiểu biết, nhận thức là thế giới vật chất; cái mình thích, ghét là thế giới vật chất; cái mình muốn sở hữu, chiếm hữu là thế giới vật chất; cái mà mình đang có cư xử, lời nói hay hành động là thế giới vật chất; và mình khổ, mình vui là Khổ Vui với thế giới vật chất. Nhân loại mặc định như vậy, nhưng mà không ngờ rằng tất cả những đối tượng đó là Cảm thọ thôi.

Con người không biết trực tiếp về thế giới vật chất, con người chỉ biết về Cảm thọ, nhưng mà con người biết về thế giới vật chất là biết do suy luận. Quý vị đọc bài “Sự khủng hoảng của vật lý học hiện đại và Thực tại là gì” (trong cuốn sách Luân hồi tái sinh – Chấm dứt luân hồi tái sinh) để quý vị thấy rằng vật lý học hiện đại có một vấn nạn.

2.400 năm vật lý học đi khám phá thế giới này để hiểu biết thế giới vật chất này là gì. Thực tại này đã mặc định là thế giới vật chất. Quá trình phát triển của vật lý học có rất nhiều thành quả, phát minh rất nhiều thứ, rồi giải đáp về vật chất. Đến khi vật lý học lượng tử ra đời thì người ta hy vọng rằng vật lý học lượng tử sẽ giải đáp cho con người một cách trọn vẹn, tuyệt đối, tận cùng, rốt ráo về vật chất là cái gì, thế giới vật chất này là cái gì? 2.400 năm vật lý phát triển rất là rộn ràng, cung cấp cho con người, khoa học kỹ thuật nhiều kiến thức và tạo ra nhiều thành quả, nhưng đến khi phát triển đến đỉnh cao là vật lý lượng tử thì người ta mới ngã ngửa ra rằng: thực tại mà người ta quan sát không phải là thế giới vật chất tồn tại khách quan với con người; và đến thời điểm hiện nay, những nhà bác học hàng đầu mới hiểu ra rằng chúng ta không hề biết gì về vật chất cả. Đó là kết luận của vật lý lượng tử.

Vật lý lượng tử phát triển đến đỉnh cao rồi tưởng là mình giải đáp được, hiểu được vật chất là gì, nhưng mà cuối cùng kết luận: không biết vật chất là gì cả. Bởi vì sao? Bởi vì thực tại này là Cảm thọ chứ đâu phải thực tại này là thế giới vật chất. Cái quan sát được là thực tại Cảm thọ. Nên những người nói rằng kỳ diệu, ăn hạt thóc hạt gạo ra cái này kia, thế giới kỳ diệu màu nhiệm như thế này…. chắc là trí tưởng tượng của họ rất ghê gớm.

Cái Biết ý thức do có những suy luận hợp lý mà có thể suy đoán: vật chất có thể tồn tại dưới dạng hạt và dạng sóng, do tương tác của nó với các Căn của con người mà phát sinh ra các cảm giác, và từ các cảm giác để mình suy đoán là vật chất tồn tại dưới dạng hạt và dạng sóng. Dưới dạng hạt, dạng sóng thì vật chất tương tác với nhau, tương tác với 6 Căn con người, phát sinh ra các hiện tượng này mà con người kinh nghiệm. Nhưng mà khoa học, vật lý học không bao giờ khẳng định rằng vật chất chỉ tồn tại dưới dạng hạt, dạng sóng. Vật chất có thể còn tồn tại dưới các dạng khác nữa, chính vì thế có những tương tác vật chất phát sinh ra các hiện tượng mà khoa học bó tay, không thể nào giải thích được, chứng tỏ là có những dạng vật chất khác tương tác với nhau, tương tác với dạng sóng và dạng hạt mới phát sinh ra.

Điều này rất phức tạp. Ngày thứ 7 quý vị sẽ nghiên cứu thế giới hóa sanh, nó tồn tại trong không gian này như thế nào, tương tác với loài người ra sao, quý vị mới hiểu ra được một số phần này. Chứ còn tôn giáo thì dựa trên những suy đoán của mình, nhưng mà những suy đoán đó, những tư duy suy luận đó dựa trên Vô minh, nên nó chồng Vô minh thôi. Suy đoán phải là tư duy hợp lý dựa trên sự thật thì lúc đó kết quả của tư duy suy đoán đó mới phù hợp với sự thật.

Khóa tu này sẽ có những giải thích sâu hơn về thế giới hóa sanh để quý vị hiểu rõ hơn thế giới hóa sanh, nó tồn tại như thế nào, nó tương tác như thế nào, dạng vật chất đó không phải là mang tính sóng hay là tính hạt bình thường như quan điểm của khoa học.

Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận