Hỏi đáp Bài 16 – NGHIỆP NHÂN VÀ NGHIỆP QUẢ
Câu 1: Tại sao lại nói quả của nghiệp là “bất khả tư nghì”?
Trả lời:
Quả của nghiệp là bất khả tư nghì ý nói nhấn mạnh hiểu biết sai lạc của con người: một nhân sinh quả. Và hiểu biết sai lạc của tôn giáo bây giờ giải thích những quả xảy ra trong kiếp này: mạnh khỏe hay ốm đau, tai nạn này tai nạn khác thì đều do Nghiệp trong quá khứ đã gây nên, theo kiểu một nhân sinh ra một quả.
Qúy vị đã học trong bài Nghiệp nhân – Nghiệp quả và bài Lý duyên khởi, bất kỳ quả nào thì cũng đều do hai nhân tương tác với nhau mới phát sinh ra. Nếu như chỉ một nhân thôi thì không thể nào phát sinh ra quả, không thể nào từ một nhân mà biến đổi ra quả được, phải là hai nhân, và hai nhân đó phải tương tác với nhau.
Quý vị thấy là Lý duyên khởi, sự thật về Lý duyên khởi – ngay thuật ngữ “duyên khởi”, các pháp là pháp duyên khởi là một từ ngữ mà Đức Phật đã dày công chế định nên. Thực chất của Lý duyên khởi là nêu lên quy luật nhân quả, nhưng không dùng từ “nhân quả”, bởi vì dùng từ “nhân quả” là dẫn đến hiểu lầm ngay. Nói chữ “nhân quả” thì người ta hiểu ngay là quả do nhân mà biến đổi thành. Còn nói “duyên khởi” thì ngụ ý phân biệt được các pháp do duyên mà khởi lên, do tương tác mà khởi lên chứ không phải là do nhân biến đổi mà thành.
Vì vậy quả của nghiệp thì nó phải do hai nhân tương tác với nhau mà phát sinh ra. Cụ thể là một nhân của quá khứ và một nhân ở hiện tại tương tác với nhau, gọi là duyên nhau mới khởi lên quả, gọi là quả của nghiệp. Vậy quả của nghiệp phải là do tương tác, do duyên giữa nghiệp nhân quá khứ với nghiệp nhân hiện tại mới phát sinh ra. Theo quan điểm hiện nay giải thích các sự kiện mà con người gặp trong đời, những quả vui quả khổ thì đều do nghiệp quá khứ khởi lên. Người ta không nói đến nghiệp nhân hiện tại. Đó là hiểu biết một chiều về quả của nghiệp.
Bây giờ chúng ta nói quả của nghiệp là do hai nhân: nghiệp nhân đời trước, nghiệp nhân đời này tương tác với nhau mà phát sinh. Cho nên nếu như nói quả của nghiệp, khi nhìn thấy nghiệp nhân đời trước và nói đến quả thì quả tạm gọi là bất khả tư nghì, tức là không thể tính toán, chỉ bày ra nó được. Bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhân hiện tại này. Nhân hiện tại này như thế nào tương tác với nhân quá khứ mới phát sinh ra quả. Quả này không phải do nghiệp quá khứ mà phát sinh ra. Cho nên quả của nghiệp là bất khả tư nghì – ý nói quả của nghiệp không phải do một nghiệp nhân trong quá khứ của các đời trước phát sinh ra mà nó còn phụ thuộc vào nhân đời này. Nhân đời này như thế nào chưa có thể biết, khi nào nó xuất hiện, nó tương tác, lúc đó mới xảy ra.
Câu 2: Khi ăn cái gì đó lần đầu tiên thì lộ trình tâm sẽ diễn ra như thế nào?
Ví dụ có ông A và ông B cùng ăn ớt, hai người đều ăn ớt lần đầu tiên. Khi đó Niệm không có gì kích hoạt thì Tư duy không có gì để so sánh. Vậy thì lần đầu tiên ăn đó lộ trình tâm sẽ diễn tiến như thế nào?
Trả lời:
Chúng ta quan sát trường hợp ông A và ông B cùng ăn ớt, nhưng một người thích, một người lại ghét. Quý vị thấy, kể cả thích và ghét ớt thì trong thực tế, nó là cả một quá trình luyện tập. Lúc đầu thì ghét, nhưng dần dà, dần dà thì có thể chuyển sang thích. Hay quý vị thấy, có nhiều người ban đầu ngửi mùi sầu riêng là không chịu được, nhưng dần dà tiếp xúc nó, ăn rồi thì lại thích. Đó cũng là một quá trình.
Câu hỏi ở đây là tại làm sao lần đầu tiên ăn ớt – cái lưỡi tiếp xúc với miếng ớt, chưa có cái luyện tập như vậy mà đã khởi lên thích ghét rồi? Vậy thì nghiệp nhân quá khứ ở đâu?
Quý vị phải hiểu thế này: thân thể con người được hình thành, phát sinh là do những cái nhân của quá khứ. Quý vị học về luân hồi tái sinh thì biết rằng, lượng thông tin trong bộ nhớ bao gồm hai lượng thông tin là thông tin di truyền và thông tin pháp trần; và cái đi luân hồi tái sinh, cái chuyển từ người chết sang người sống chính là hai lượng thông tin này.
Trong bộ nhớ đó, khi sinh ra, không phải là hoàn toàn không có thông tin. Kể cả thông tin di truyền, kể cả thông tin pháp trần đều tái sinh, từ người chết sang bào thai. Như vậy, trong lượng thông tin đó đã có một số thông tin di truyền cấu tạo của cơ thể, nó phụ thuộc vào lượng thông tin di truyền của người chết. Cho nên tính chất của cơ thể quy định bởi thông tin di truyền. Thông tin di truyền của con người bao gồm thông tin di truyền của cha, của mẹ và của thức tái sinh (của người chết) – không phải chỉ một mình thông tin di truyền của cha, mẹ ở trong trứng và tinh trùng, mà nó còn bị ảnh hưởng, bị chi phối bởi thông tin di truyền của người chết nữa. Và trong đó còn có thông tin pháp trần về tâm của người chết.
Cho nên, quý vị thấy nghiệp nhân đó đã có trong bộ nhớ rồi. Khi lần đầu tiên tiếp xúc: đương nhiên là do thông tin di truyền và thông tin pháp trần của thức tái sinh, cho nên lưỡi người này và lưỡi người kia là khác nhau (cho dù khác nhau rất vi tế, nhưng đều khác nhau), vì vậy, cùng một quả ớt đó, tiếp xúc với lưỡi hai người ra hai cảm giác khác nhau. Và Niệm sẽ tìm kiếm thông tin trong bộ nhớ, lần đầu tiên vẫn có thông tin trong bộ nhớ của kiếp trước, và bản thân ngay hai cái cảm giác đó là khác nhau rồi, cho nên đã có thái khác nhau. Và nó còn bị ảnh hưởng bởi những thông tin pháp trần trong bộ nhớ nữa.
Vì vậy, tại sao lần đầu tiên hai người ăn quả ớt, chứ chưa phải là được luyện tập, nhưng lại có thích ghét khác nhau là như vậy.
Câu 3: Có phải nhân quả nào cũng tạo nghiệp? Ví dụ khát nước được uống hết khát, đói ăn thì no…
Trả lời:
Quý vị thấy nhân quả (quy luật nhân quả, duyên khởi) là bao trùm, nó đi từ thô đến tế. Còn nói đến nhân quả nghiệp báo thì là một phần của nhân quả thôi. Nhân quả nghiệp báo là nói đến kết quả: quả khổ, quả vui theo sự vận hành từ nghiệp nhân đi đến nghiệp quả. Còn nhân quả thì bất kỳ cái gì cũng phải xảy ra theo quy luật nhân quả.
Bát Tà Đạo hay Bát Chánh Đạo đều là những quá trình nhân quả nối tiếp nhau.
Trên Bát Tà Đạo những gì được lưu giữ vào bộ nhớ thì đều là nghiệp, vì nó sẽ đóng vai trò là nghiệp nhân để tạo ra quả khổ hay quả vui trong tương lai. Ví dụ: uống nước đã khát, thấy rất thoải mái sảng khoái thì thông tin đó được lưu vào bộ nhớ, hay ăn xong cảm thấy no, hết đói cũng được lưu vào bộ nhớ, tất cả những cái đó đối với lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì đều là nghiệp. Bởi vì lộ trình tâm sau khởi lên thì những thông tin đó sẽ đóng vai trò làm nhân quá khứ, tương tác với nhân hiện tại để phát sinh quả khổ quả vui (trong hiện tại nếu khát nước mà tư duy, so sánh, đối chiếu với trạng thái được uống nước đã khát sảng khoái trước đây như vậy thì đưa đến Tà kiến Ta đang khát nước, bực bội với Khổ thọ khát nước hiện tại…).
Nhưng không phải mọi thông tin được lưu vào đều là nghiệp. Chỉ khi lộ trình tâm đó là Bát Tà Đạo thì những thông tin lưu vào mới là nghiệp nhân. Còn trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, cũng có tri thức kinh nghiệm, cũng có lộ trình tâm khởi lên có thông tin lưu vào bộ nhớ nhưng nó không còn tạo nghiệp, không còn tạo tác ra quả khổ, quả vui nữa.
Lộ trình tâm Bát Tà Đạo mới có sự vận hành từ Nghiệp nhân đến Nghiệp quả cho nên mới có quả khổ hoặc vui. Còn lộ trình tâm Bát Chánh Đạo: chấm dứt sự vận hành từ Nghiệp nhân đến Nghiệp quả, chấm dứt cả quả khổ lẫn vui (kinh nghiệm không thích không ghét đối tượng, không có quả của nghiệp).
Câu 4: Từ bỏ phước báo
Sư cho con hỏi về nhân quả nghiệp báo ạ. Con nghe nói là trong việc tu hành thì phước là quan trọng lắm, chính phước đức dẫn dắt ta đi trên con đường giải thoát giúp ta có hoàn cảnh tu thuận lợi, giúp ta gặp được thầy lành bạn tốt chỉ cho ta đạo lý đúng đắn…
Cho con hỏi là lạy phật với lòng tôn kính thì có phước không? Sám hối mỗi ngày thì có giảm bớt tội không, có mê tín không? Phải ứng dụng luật nhân quả làm phước thế nào cho đúng?
Trả lời:
Tu phước để có quả vui trong tương lai là tu để còn luân hồi và bản chất tu phước là tham ái. Cho dù có đạt quả vui đến mức độ khoẻ mạnh, xinh đẹp, giàu có tột đỉnh… thì vui đó bản chất là vui ít, khổ nhiều, não nhiều, mà nguy hiểm lại càng nhiều hơn.
Giáo Pháp của Đức Phật là tu để chấm dứt cả khổ lẫn vui, chấm dứt luân hồi nên pháp tu Bát Chánh Đạo không có tu phước mà chỉ tu Định và Tuệ để chấm dứt kiếp sau, chấm dứt luân hồi tái sinh. Đã tu để không còn kiếp sau thì có cần tới phước báo ở kiếp sau đâu nữa mà bây giờ phải tu phước để kiếp sau hưởng phước báo đó.
Có bài kệ Pháp cú rằng:
Ai sống trong đời này
Từ bỏ các phước báo
Đoạn trừ các ác pháp
Hành trì theo Phạm hạnh
Sống nếp sống Chánh trí
Mới xứng gọi Tỷ kheo
Câu 5: Thanh lọc nghiệp khi tu tập Bát Chánh Đạo là như thế nào?
Tu Bát Chánh Đạo là để thanh lọc các thông tin trong bộ nhớ hay thanh lọc nghiệp, tức là khi nghiệp nhân hiện tại tương tác với nghiệp nhân quá khứ (thông tin trong bộ nhớ) nhưng theo lộ trình Bát Chánh Đạo thì không có quả Khổ Vui và thanh lọc được nghiệp. Vậy con hiểu là nghiệp nhân hiện tại phải đến tương tác liên tục với nghiệp nhân quá khứ thì mới thanh lọc nghiệp được, mà thời gian từ nhân đến lúc trổ quả là bất định, như thế có mâu thuẫn không khi các vị A La Hán thanh lọc được nghiệp hoàn toàn ạ?
Trả lời:
Quý vị phải hiểu như thế này: khi lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì nghiệp nhân tạo ra nó là tư tưởng Chấp ngã, Tà kiến. Tuy rằng có các sự kiện đó xảy ra, có các tri thức, kinh nghiệm nhưng những tri thức kinh nghiệm đó nhuốm màu Vô minh, Chấp ngã. Vì vậy, những thông tin được lưu vào bộ nhớ nhuộm màu Vô minh, Chấp ngã. Các tri thức kinh nghiệm có thể là trung tính nhưng tư tưởng của con người thì có tư tưởng Vô minh, Chấp ngã cho nên những tri thức kinh nghiệm đó nhuốm màu Vô minh, Chấp ngã.
Khi lộ trình tâm Bát Tà Đạo khởi lên, Tà niệm kích hoạt nguyên xi những thông tin đó, những tri thức kinh nghiệm đó nhưng mang màu Vô minh, Chấp ngã.
Khi lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, vẫn kích hoạt thông tin những tri thức kinh nghiệm đó nhưng Chánh Niệm kích hoạt cho nên các thông tin đó được nhuốm màu Minh – Trí tuệ, không còn nhuốm màu Vô minh, Chấp ngã nữa. Vì vậy trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, những thông tin tri thức kinh nghiệm đó được kích hoạt nhuốm màu Minh – Trí tuệ nên không còn là nghiệp nhân nữa. Không còn nghiệp nhân thì cũng không có nghiệp quả.
Đối với một vị hữu học, lộ trình tâm Bát Chánh Đạo cũng kích hoạt các tri thức kinh nghiệm nhưng đã được thanh lọc khỏi Vô minh. Quý vị hình dung thế này: khi quý vị ăn cơm hay rửa bát, nấu ăn, nếu quý vị cắn chặt răng – ngậm chặt lưỡi rồi nhắc thầm “thấy, thấy” liên tục thì quý vị đạt được sơ thiền trong khi làm việc. Lúc đó 80-90% các đối tượng chỉ Thấy thuần túy thôi, không có cái Biết khởi lên tức là không có tri thức kinh nghiệm khởi lên, nhưng 10-15% đối tượng vẫn có cái Biết khởi lên để biết làm việc.
Ví dụ khi ăn, quý vị nhắc “thấy, thấy” liên tục thì 80-90% đối tượng là chỉ Thấy thôi, nhưng cái Biết vẫn khởi lên để biết xúc thức ăn, biết nhai đến mức độ đó thì nuốt. Tức là quý vị vẫn sử dụng những tri thức kinh nghiệm đã học hỏi trước đây. Đó là những tri thức kinh nghiệm đã được học hỏi, nhưng trước kia các tri thức kinh nghiệm đó nhuốm màu Chấp ngã: Tôi nhai, Tôi nuốt, Tôi gắp… còn bây giờ những tri thức kinh nghiệm đó được thanh lọc khỏi Chấp ngã.
Trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo không kích hoạt Vô minh, Chấp ngã nữa, cho nên các thông tin đó được gọi là THANH LỌC NGHIỆP, không còn là nghiệp nữa mà lúc đó gọi là Trí tuệ, là Minh, nên không còn nghiệp nhân đi đến nghiệp quả. Khi lộ trình tâm Bát Chánh Đạo khởi lên như vậy thì những thông tin của Bát Chánh Đạo sẽ được lưu trở lại vào bộ nhớ, và những thông tin này nhuốm màu Minh hoàn toàn, không còn Vô minh nữa, cho nên dần dần những tri thức kinh nghiệm này sẽ được thanh lọc khỏi Vô minh và được lưu thành Minh trong bộ nhớ. Đến khi nào đột chuyển xảy ra thì toàn bộ kho tri thức đó cũng được thanh lọc.
Quý vị tiếp tục tư duy thêm, đây là nói sơ lược thôi. Vì đó là cả một quá trình mình phải hiểu sâu về sự thanh lọc này. Hình dung thế này: có một tấm vải, khi dệt ra nó vốn dĩ có màu trắng, rồi đầu tiên người ta nhuộm nó màu đen. Sau đó, muốn nhuộm nó thành một màu khác, chả hạn màu đỏ, thì người ta phải tẩy màu đen rồi lúc đó mới nhuộm màu đỏ vào. Tương tự như vậy, tấm vải màu trắng mới dệt ra đó giống như tri thức kinh nghiệm, nó trung tính. Rồi lúc đầu người ta nhuộm màu đen thì tương tự như những tri thức kinh nghiệm bị nhuốm màu Vô minh, Chấp ngã. Đến khi người ta tẩy trắng trở lại rồi nhuộm màu đỏ thì tương tự như tri thức kinh nghiệm đó được nhuốm màu minh.
Câu 6: Pháp Trần và nghiệp nhân quá khứ
Con hiểu pháp trần và nghiệp nhân quá khứ là một đúng không ạ? Và trong lúc tọa thiền con thực hành quan sát các cảm giác do pháp trần duyên xúc với ý căn mà phát sinh, nó là Thọ, thuộc về tâm, có thuộc tính vô thường, vô ngã. Đây có phải là cách làm cho nghiệp quá khứ cạn kiệt dần không?
Trả lời:
Thông tin Pháp Trần trong bộ nhớ gồm các tri thức, kinh nghiệm, Vô minh, Chấp ngã và đối với người có Văn tuệ có thêm Minh, nhưng khi nó “nằm im” trong bộ nhớ thì chưa phải là nghiệp.
– Khi thông tin đó được kích hoạt thì nó là một nhân của tương tác (nhân quá khứ). Sẽ xảy ra 2 trường hợp:
1- Nếu Tà niệm khởi lên thì thông tin kích hoạt “nhuốm màu” Vô minh, Chấp ngã. Lúc đó những thông tin đó là một Nghiệp Nhân và theo vận hành Bát Tà Đạo sẽ phát sinh Nghiệp Quả – Khổ hoặc Vui.
2- Nếu Chánh Niệm khởi lên thì thông tin kích hoạt “nhuốm màu” Minh nên nó được thanh lọc khỏi Vô minh, Chấp ngã, không còn là Nghiệp Nhân nữa, không còn quả Khổ Vui nữa, mà nó vận hành trên Bát Chánh Đạo làm phát sinh Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát.
Câu 7: Tại sao gieo nhân nào gặp quả nấy là sai?
Sau khi nghe bài giảng Nghiệp nhân và Nghiệp quả con có một số thắc mắc mong được giải đáp: Con chưa đồng tình lắm với giải thích của sư về nhân nào quả nấy là sai, làm ác chưa chắc gặp quả xấu và làm lành chưa chắc gặp quả lành, vì theo như bài giảng của sư: hai nhân tương tác với nhau sẽ ra quả, quả này tốt hay xấu phụ thuộc vào nhân mà nó tương tác đó như thế nào.
Về mặt ngắn hạn, có thể nhân xấu chưa trổ quả ác vì điều kiện phát sinh là nhân thứ hai chưa thuận lợi để ra quả, như nếu tiếp tục gieo nhân ác thì có ngày hai nhân ác gặp nhau sẽ tạo quả, hoặc khi ác nhân đó được lưu vào tâm thức và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ trổ quả khổ.
Ứng dụng vào việc tích lũy làm các việc lành, tránh các việc ác, vì vậy nên các việc thiện lành chắc chắn sẽ có vui và làm ác xấu chắc chắn sẽ có quả khổ, chỉ là vấn đề thời gian khi điều kiện đủ chín muồi. Ở góc độ này thì nhân nào quả nấy là đúng nhưng nó chưa đầy đủ cặn kẽ hết. Con hiểu như vậy có đúng không?
Trả lời:
Quý vị phải thay đổi nhận thức của mình bằng cách quan sát sự thật, cái nào không đúng sự thật thì phải vứt bỏ nó, cái nào đúng sự thật thì chấp nhận.
Quan điểm hiện nay trong Phật giáo về quả của nghiệp: nghiệp nhân đã gieo trong quá khứ khi chưa chín thì chưa trổ quả, còn đến khi điều kiện chín muồi thì sẽ trổ quả trong hiện tại, và theo quy luật là: nhân ác thì quả khổ, nhân thiện thì quả vui. Đó là quan điểm một nhân sinh quả.
Trong kinh điển đã khẳng định: Quả của nghiệp là rất khó nghĩ bàn, không thể khẳng định được (bất khả tư nghì). Là bởi vì: nhân quá khứ phải tương tác với nhân hiện tại thì mới phát sinh quả khổ hoặc vui, quả phụ thuộc vào hai nhân tương tác với nhau chứ không phải một nhân biến đổi thành quả như quan điểm đó.
Trong các tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật thì luôn tuyên truyền: làm ác thì bị quả dữ, và làm thiện thì được quả lành, xem đó là chân lý bất di bất dịch. Những điều quý vị học ở đây thì trái ngược với quan điểm chung hiện nay của Phật giáo. Quý vị HÃY QUAN SÁT SỰ THẬT: nếu “làm thiện thì được quả vui, làm ác thì bị quả khổ” là sự thật, là chân lý hiển lộ ra hàng ngày (nếu đã là chân lý thì nó mang tính phổ quát, đúng cho tất cả mọi lúc mọi nơi, không bị chi phối bởi thời gian) thì chắc chắn ai ai cũng sẽ chăm chăm làm thiện để được quả vui và tránh xa làm ác để không bị quả khổ.
Tuy rằng chủ trương của các tôn giáo để giáo dục con người làm thiện để được quả vui, tránh làm ác để tránh quả khổ, nhưng cái đó không xảy ra như vậy. Vì sự thực hàng ngày diễn ra: làm thiện có lúc được quả vui nhưng cũng có lúc quả khổ; làm ác có lúc được quả khổ nhưng cũng có lúc được quả vui.
Cho nên phải quan sát sự thực để thay đổi nhận thức, và sự thực đó thì phù hợp với quy luật nhân quả.
Câu 8: Cách thức hình thành nghiệp nhân
Kính thưa thiền sư, sau khi học con đã hiểu cách thức nghiệp nhân hiện tại tương tác với nghiệp nhân quá khứ tạo ra quả rồi. Con xin thiền sư giảng thêm về cách mà nghiệp nhân hiện tại xảy đến với mình ạ? Ví dụ mình giết một con gà hay làm người khác đau khổ thì hành động đó mở rộng ra là ý nghiệp, khẩu nghiệp sẽ quay lại thành nghiệp nhân hiện tại như thế nào ạ?
Trả lời:
Những hành động, lời nói hay ý nghĩ của con người bình thường thì đều diễn ra trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Và bất kỳ lộ trình tâm nào thì các thông tin đều được lưu vào bộ nhớ, chính là thông tin pháp trần. Khi lưu vào trong bộ nhớ thì lúc đó nó trở thành nghiệp nhân quá khứ.
Ví dụ: một người chửi người kia thì khi đó là nghiệp nhân trong hiện tại, nhưng lời chửi đó, thái độ chửi đó được lưu vào bộ nhớ của người đó. 1 giờ sau, lời chửi và thái độ đó diệt rồi nhưng người đó vẫn lại nhớ được lời chửi, thái độ chửi đó. Điều đó chứng tỏ, lời chửi, thái độ chửi đó được lưu vào bộ nhớ dưới dạng thông tin, thì 1 giờ sau ý tiếp xúc với pháp (thông tin đó) làm phát sinh lộ trình tâm, và người đó biết lúc trước mình có lời chửi, thái độ chửi như vậy.
Cho nên quý vị phân biệt: khi người đó chửi với lời nói, thái độ như vậy thì đó là nghiệp nhân trong hiện tại. Đương nhiên là nó cũng phát sinh kết quả trong hiện tại. Rồi những thông tin đó được lưu vào bộ nhớ. Khi lộ trình tâm sau kích hoạt thông tin đó lên thì lúc đó nó đóng vai trò là nghiệp nhân quá khứ.
Câu 9: Mối liên quan giữa Lý duyên khởi và nghiệp nhân nghiệp quả
Trả lời:
Quý vị thấy, tôi đã nêu lên định luật Lý duyên khởi: hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mới phát sinh quả, đó là đơn vị nhỏ nhất, và quá trình nhân quả cứ nối tiếp nhau như vậy.
Các danh pháp cũng phát sinh theo quy luật nhân quả, nối tiếp nhau, hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mới phát sinh quả. Khi tôi nói về nghiệp nhân nghiệp quả, thì cũng nói rõ nó vận hành trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Và cũng phân tích rõ ràng: Khổ Vui là quả, do hai nhân là nhân quá khứ (thông tin lưu trong bộ nhớ) và nhân hiện tại (Căn – Trần tiếp xúc). Thì có phải là hoàn toàn nhất quán không?
Khi chúng ta khảo sát đúng là hoàn toàn nhất quán.
Các nhà khoa học có phát minh cái gì đúng thì đều là phải quan sát hai nhân tương tác với nhau mới phát sinh quả. Không thể nào có một nhân sinh quả. Khi nghiên cứu là quan sát sự tương tác giữa hai nhân phát sinh quả, nhưng khi giải thích kết quả đó thì lại quay về kiểu một nhân sinh quả.
Ví dụ về Newton phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn: lúc đó ông ta quan sát quả đất là một nhân, quả táo là nhân thứ hai, mới tìm ra tương tác giữa hai nhân, từ đó mới tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn. Nhưng nhân loại khi sử dụng phát minh đó thì lại giải thích cho rằng quả đất là nhân, sức hút là quả, quan hệ nhân quả là sức hút của quả đất. Tri thức hiểu biết đó khởi đầu khám phá là tương tác giữa hai nhân mới phát sinh ra kết quả, thể hiện bằng định luật vạn vật hấp dẫn, nhưng khi sử dụng nó thì lại trở về với một nhân sinh quả.
Trong vật lý có một cái thế này: thuở trước thì Thần học quan niệm quả đất là trung tâm vũ trụ, mặt trời là quay quanh quả đất. Đến khi Galileo phát hiện ra quả đất quay quanh mặt trời thì lúc đó Giáo hội Thần giáo xử thiêu vì trái với kinh thánh. Sự thực là trái đất quay quanh mặt trời. Cho dù là hiểu sai như vậy nhưng cả mấy ngàn năm trước công nguyên, thiên văn học vẫn tìm ra quy luật, giải thích đúng về nhật thực, nguyệt thực. Quan niệm thì sai nhưng kết quả đúng. Tại sao quan niệm thời đó là sai mà kết quả lại đúng? Vì lúc đó người ta chỉ quan sát chuyển động tương tác giữa hai vật thể thôi, không cần biết cái nào xoay quanh cái nào.
Câu 10: Lộ trình tâm dẫn đến sự xúc động
Lộ trình tâm của một người khi nghe Sư kể câu chuyện động đất ở Đường Sơn (Trung Quốc) thì con thấy lộ trình tâm này rất là phổ biến, là lộ trình tâm dẫn đến sự xúc động. Con muốn hỏi cái nhân nào dẫn đến sự xúc động đó, và sự xúc động đó được định vị ở chỗ nào trong Tham Sân Si, trong lộ trình tâm?
Trả lời:
Đương nhiên thì sự xúc động phải có nguyên nhân của nó. Con người trong cuộc sống thì trong thẳm sâu bộ nhớ có lòng trắc ẩn, và chỉ khi nào mà cái đó được kích hoạt lên, tức là Niệm kích hoạt cái đó lên thì đưa đến cái Biết ý thức, sẽ đưa đến những cái cảm xúc như vậy.
Quý vị thấy như thế này, rất nhiều lập trình đã được lập trình, tuy rằng đó là một cảm xúc nhưng mà nó phải chạy theo một lập trình, và cái lập trình này đã được thành lập, khi nào mà đụng đến thì nó chạy. Ví dụ như quý vị đã từng ăn chanh hay mơ, khi ăn thì phát sinh ra cảm giác vị chua rồi phát sinh ra chảy nước miếng… Cái này nó đã hình thành lập trình, cho nên khi quý vị nghĩ đến quả mơ (tưởng đến) thì tâm Biết ý thức khởi lên biết đó là mơ, biết đó là chua thì nó sẽ tương tác vào cái lập trình đã được lập trình sẵn, cái lập trình chạy thì làm các vùng đó tiết ra nước bọt.
Quý vị phải hiểu trong cơ thể của quý vị có cài đặt vô số lập trình. Quý vị hình dung như thế này, bây giờ quý vị nhìn cái xe đạp, nhiều người đương nhiên là không thấy cái lập trình gì nhưng khi chúng ta quan sát kỹ càng thì thấy có một cái lập trình đã được cài đặt khi chế tạo: đó là khi chân của quý vị tương tác với cái bàn đạp, chân là một nhân, bàn đạp là nhân thứ hai tương tác với nhau thì sẽ phát sinh kết quả là cái đĩa quay, đó là cái lộ trình nhân quả. Cái đĩa quay này là một nhân, tương tác với cái xích làm phát sinh kết quả là cái xích chạy. Cái xích chạy này là một nhân, tương tác với cái líp thì làm phát sinh cái bánh xe quay. Cái bánh xe quay này tương tác với đường thì làm cho cả cái xe chạy.
Quý vị thấy là chỉ cần bàn chân tương tác với cái bàn đạp thì cả cái lập trình chạy, chứ không phải là quý vị điều khiển từng cái một đâu. Khởi đầu là chân tiếp xúc với bàn đạp thì cả cái lập trình chạy, cái xe chạy. Lập trình này được cài đặt khi mà chế tạo ra cái xe, tuy cái xe là vật chất nhưng mà cái lập trình này là thông tin.
Thế thì trong cơ thể của quý vị cũng có hàng ngàn, hàng vạn lập trình kiểu như vậy, hễ tương tác cái là nó chạy. Cho nên có vô số lập trình. Chẳng hạn như là nghe xong chuyện gì đó rồi khóc, thì đó cũng là cái lập trình tương tác vào làm tiết ra nước mắt. Khi mà có những thông tin tương tác vào thì cả một lập trình chạy.
Kể cả khi quý vị giơ tay, quý vị chỉ cần tác ý thôi thì cả một lập trình cài đặt trong cái tay này, từ tế bào này sang tế bào khác là nó theo một cái lập trình chuyển động, giống như là cái xe đạp chạy như vậy.
Cho nên quý vị mới thấy, nếu như dùng theo ngôn ngữ máy tính thì cơ thể này là phần cứng, vật chất là phần cứng mà trong đó đã cài đặt các phần mềm, rất là nhiều lập trình, trong đó lập trình tổng quát là Bát Tà Đạo. Đương nhiên là nhiều cái lập trình khác nhỏ nữa. Khi tác ý thì các lập trình xảy ra: chân bước, chân giơ lên, tay giơ lên, lời nói, hành động, v.v… tất cả đều được lập trình. Khi mà tác ý là tay quay bên này thì nó chạy cái lập trình này, tay quay bên kia thì nó chạy lập trình kia, tất cả đều giống như là robot cả, máy móc cả, tất cả đều được học tập rồi cài đặt. Mới đẻ ra làm gì có cái chuyện là biết đứng, biết ngồi, biết lật, mà phải là học tập, phải tập rồi hình thành các cái lập trình đó, kể cả lời nói và vô số lập trình khác nữa. Chẳng hạn như dục tưởng khởi lên, một tư tưởng về tình dục khởi lên thì các lập trình chạy.
Cho nên, ví dụ như ở trong bộ nhớ có cái trắc ẩn, khi những thông tin bên ngoài đụng đến thì cái trắc ẩn tương tác phát sinh ra quá trình nhân quả, rồi tương tác một lập trình làm nước mắt chảy ra. Quý vị phải hiểu những cái đó là cơ chế máy móc hoàn toàn, không có ai điều khiển ở đây cả, nó đã được lập trình, là máy móc cả rồi.
Thiền sư Nguyên Tuệ
