Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 17 & 18: LUÂN HỒI TÁI SINH VÀ HÓA SANH

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 17 & 18: LUÂN HỒI TÁI SINH VÀ HÓA SANH

BÀI 17 & 18: LUÂN HỒI TÁI SINH VÀ HÓA SANH

Câu 1:  Trả Lời Tổng Quát Về Luân Hồi Tái Sinh Và Hóa sanh

Trong các khóa tu học 9 ngày thì ngày thứ bảy là ngày học về luân hồi tái sinh, về đời sống hóa sanh, học về sự tương tác giữa hóa sanh và con người, cho nên có rất nhiều câu hỏi. Quý vị nghe kỹ  phần này thì trong đó bao gồm trả lời các câu hỏi một cách tổng quát, không đi vào trả lời từng câu hỏi một. Quý vị chú tâm lắng nghe để có thể tự lý giải được các thắc mắc của mình.

  1. Giới thiệu các quan điểm đối lập về Luân hồi tái sinh

Quý vị đã học bài về luân hồi tái sinh thì hiểu rằng có hai quan điểm:

Một quan điểm của Phật giáo và các tôn giáo Đông Phương, cho rằng có luân hồi tái sinh, cho rằng con người sau khi chết sẽ tiếp tục một đời sống khác, và thực chất là con người chỉ qua đời chứ không phải là chết hẳn. Qua đời có nghĩa là hết đời này sẽ sang một đời khác.

Quan điểm thế gian thứ hai là quan điểm duy vật, cho rằng chết là hết, sau khi chết là không có một đời sống nào khác nữa.

Đây là hai quan điểm đối lập, tranh cãi nhau, quan điểm của duy tâm thì cho rằng là có luân hồi tái sinh, còn duy vật thì cho rằng không có luân hồi tái sinh. Cho đến ngày nay, rất nhiều nhà khoa học theo chủ nghĩa duy vật, nhưng khi họ khám phá sự thật thì họ cũng công nhận con người sau khi chết còn tồn tại, nhưng mà tồn tại ở dạng nào thì họ cũng không thể nào kết luận được. Còn duy tâm thì cho rằng con người có một linh hồn không sinh không diệt và chính linh hồn đó đi tái sinh.

Phật giáo cũng chủ trương có luân hồi tái sinh, nhưng khác với các tôn giáo duy tâm, Phật giáo thì phủ nhận một linh hồn, một bản ngã không sinh không diệt. Tuy rằng Phật giáo cũng nói luân hồi tái sinh, nhưng mà từ trước đến nay, để giải thích cái gì luân hồi tái sinh, cái gì chuyển từ kiếp sống này đến kiếp sống sau là điều nan giải. Chưa ai giải thích được, nói rõ được cái gì luân hồi tái sinh, cái gì chuyển từ đời sống này sang một đời sống sau.

Nếu như không giải thích được cái gì luân hồi tái sinh, cái gì chuyển từ đời sống này sang một đời sống khác thì đa phần cũng sẽ rơi vào thuyết linh hồn thôi. Cho nên là từ trước đến nay, cho dù các tôn giáo duy tâm có chủ trương là có luân hồi tái sinh, hay là ngày nay một số nhà khoa học duy vật cũng công nhận là có luân hồi tái sinh, nhưng mà cái gì đi luân hồi tái sinh thì không ai giải thích được.

  1. Sự thật về luân hồi tái sinh – Cái gì đi luân hồi tái sinh?

Quý vị đã học lộ trình chết và lộ trình luân hồi tái sinh, thì quý vị hiểu rằng, con người với lộ trình tâm Bát Tà Đạo có Dục Ái, Hữu Ái, Phi Hữu Ái và đặc biệt là khi chết thì hữu ái được kích hoạt, lúc đó tâm tham sống sợ chết khởi lên. Quý vị đã nghe giảng để hiểu rằng khi một con người chết, thân hoại mạng chung thì lúc đó phát ra một thức tái sinh, mà cụ thể là một hóa sanh. Hóa sanh đó bao gồm gồm hai phần: phần thân và phần tâm. Phần thân là vật chất, là sắc; phần Tâm, thuật ngữ Phật học gọi là danh.

Và chúng ta biết rằng, cái thoát ra khỏi người chết đó là một hóa sanh bao gồm vật chất là một loại vật chất đặc biệt mang lưỡng tính sóng hạt (thường gọi là vật chất lượng tử), và trong vật chất lượng tử đó sẽ chứa hai lượng thông tin là thông tin di truyền và thông tin pháp trần. Vì vậy sau khi con người thân hoại mạng chung hay là sau khi con người chết thì tiếp nối là một hóa sanh. Hóa sanh này cũng có thân cũng có tâm, thân đó là vật chất đặc biệt mang lưỡng tính sóng hạt và tâm đó là một lộ trình tâm tương tự như là ở con người, lộ trình tâm thứ 6 Ý tiếp xúc với Pháp.

Hóa sanh có thân có tâm, nó di chuyển trong thế giới này, tính chất của nó là lưỡng tính sóng hạt, cho nên là nó vừa mang tính sóng vừa mang tính hạt. Nếu như hoàn toàn là tính hạt thì nó di chuyển theo một  cái đường nào đó, nhưng nó còn mang tính sóng nữa, theo tính sóng thì nó có tính chất lan truyền như là các loại sóng điện từ chẳng hạn. Nó lan truyền ra bốn phương tám hướng… điều này khoa học cũng chưa thể nào xác định được là nó di chuyển như thế nào, bởi vì nó là một  hàm sóng rất phức tạp.

Cho nên, quý vị hiểu rằng sau khi chết thì tiếp nối là một hóa sanh và quý vị đã quan sát đời sống hóa sanh rồi. Sau khi hóa sanh này tồn tại hết tuổi thọ thì nó tương tác với một  hợp thể trứng và tinh trùng; và theo quy luật duyên khởi, hóa sanh đó cùng với hợp thể trứng và tinh trùng tương tác với nhau thì cùng diệt và phát sinh ra một bào thai.

Trong  bào thai này cũng có hai phần là vật chất và thông tin. Phần vật chất chính là vật chất của trứng và tinh trùng, còn phần thông tin thì bao gồm bốn loại thông tin: thông tin di truyền của cha, thông tin di truyền của mẹ, thông tin di truyền của hóa sanh, và thông tin pháp trần của hóa sanh. Dưới sự tương tác giữa vật chất và tinh thần này, danh và sắc này thì bào thai phát triển phân chia ra các tế bào tim, gan, thận… đến một  thời kỳ nào đó thì các tế bào thần kinh hoàn chỉnh và bắt đầu hoạt động, lúc đó mới phát sinh các lộ trình tâm của thai nhi đó. Sau 9 tháng 10 ngày thì thai nhi đó được sinh ra làm một con người.

Như vậy, quá trình luân hồi tái sinh là con người sống, sau khi chết thì phát sinh tiếp nối là đời sống hóa sanh, sau khi hết  đời sống hóa sanh thì đa phần là vào đời sống thai sanh. Kể từ thai sinh thì đó chính lại là một con người. Cho nên vòng Luân Hồi của con người là con người rồi hóa sanh, rồi trở lại con người, rồi hóa sanh, rồi trở lại con người, rồi hóa sanh.

Đương nhiên là có những trường hợp, con người chết tiếp nối là hóa sanh; và hóa sanh có những trường hợp rất đặc biệt, hy hữu mới vào thai sanh của loài thú; hoặc là hóa sanh của loài thú vào thai sanh của loài người. Trường hợp này rất ít, hiếm, đa phần là vòng luân hồi tái sinh bao gồm là hết kiếp người lại đến kiếp hóa sanh, hết kiếp hóa sanh lại đến kiếp người, và nó xoay vòng vô cùng tận như vậy.

Vậy thì quý vị hiểu rằng, khi một người chết thì chuyển sang hóa sanh, cái đi luân hồi tái sinh đó là thông tin di truyền và thông tin pháp trần của người đó. Khi hóa sanh diệt, chấm dứt đời sống hóa sanh thì là lượng thông tin di truyền và lượng thông tin pháp trần của hóa sanh lại truyền đến thai nhi. Như vậy, cái đi tái sinh đó là lượng thông tin di truyền và lượng thông tin pháp trần. Lượng thông tin di truyền và lượng thông tin pháp trần này được lưu giữ trong cấu trúc ADN của mỗi tế bào và đặc biệt là tế bào thần kinh não bộ. Đó là điểm thứ nhất là quý vị phải nắm vững.

  1. Nỗi thống khổ của đời sống hóa sanh

Thứ hai là quý vị quan sát, hiểu được nỗi thống khổ của đời sống hóa sanh. Cho dù là kiếp này như thế nào nhưng mà sau khi thân hoại mạng chung, chuyển sang một kiếp khác là kiếp hóa sanh thì hóa sanh đó chịu rất nhiều nỗi thống khổ mà quý vị đã nghe giảng, đã chứng kiến một số trường hợp.

Quý vị phải hiểu rằng, con người có thân xác này, sống trong cuộc đời này có bao nhiêu cái khổ, rất là nhiều cái khổ, nhưng nỗi khổ của con người không thấm tháp gì so với nỗi khổ của hóa sanh sau khi con người chết. Cho nên một cái rất quan trọng là quý vị phải hiểu được còn luân hồi tái sinh là nỗi khổ rất kinh khủng, kinh khiếp.

Những ai là người trí sau khi nghe bài giảng này thì sợ hãi vòng luân hồi đến “lông tóc dựng ngược”. Chỉ có những người trí sau khi quan sát sự thật này, chấp nhận sự thật này mới thấy nỗi khủng khiếp của luân hồi tái sinh. Giáo Pháp của Đức Phật là giải thoát luân hồi tái sinh, chấm dứt luân hồi tái sinh, bởi vì vòng luân hồi tái sinh quá khủng khiếp. Con người sống trong đời này chịu rất nhiều đau khổ, thống khổ, nhưng nỗi đau khổ, thống khổ đó không thấm tháp gì so với nỗi đau khổ, thống khổ của  kiếp hóa sanh.

  1. Mục đích học về Luân hồi tái sinh và Hóa sanh

Vì vậy, bài này mục đích là giới thiệu cho quý vị  sự thực về nỗi thống khổ của Hóa sanh, của vòng luân hồi, để quý vị sợ hãi lông tóc dựng ngược với hóa sanh, và để quý vị chuẩn bị học một bài tiếp theo là làm thế nào để chấm dứt luân hồi tái sinh. Cho nên quý vị phải hiểu rằng, mục đích của bài này không phải là quý vị học rồi quý vị tìm hiểu nó để quý vị chờ đợi kiếp sau có những hóa sanh tốt đẹp. Không bao giờ có hóa sanh nào tốt đẹp cả!

Quý vị thấy rằng, khi quý vị nghe giảng về ba loại hóa sanh đó (hóa sanh của người cực ác, nhiều Tà kiến; hóa sanh của người cực thiện, ít Tà kiến; hóa sanh của người trung gian) thì cho dù hóa sanh có đời sống tốt đẹp nhất (tôn giáo gọi là chư thiên) thì vẫn có nỗi thống khổ vô cùng tận.

Cho nên quý vị phải hiểu rằng, mục đích nghe khảo sát luân hồi tái sinh là để quý vị hiểu rõ là sau khi chết, nỗi đau khổ còn khủng khiếp như thế nào khi mà còn luân hồi tái sinh. Và đây cũng là một cách thức để quý vị tuệ tri sự thật khổ, không những là khổ ngay bây giờ và tại đây, ngay trong kiếp sống làm người, mà sau khi chết còn luân hồi tái sinh thì còn khổ kinh khủng. Quý vị hiểu như vậy để quý vị quyết tâm tu tập để chấm dứt luân hồi tái sinh, để xác định rằng đây là kiếp sống cuối cùng, và chết này là chết hẳn, chết không còn phát sinh thức tái sinh.

  1. Tương tác giữa hóa sanh và con người

Một vấn đề mà quý vị rất quan tâm, đó là sự tương tác giữa con người và hóa sanh. Nếu như đời sống này chỉ có con người không thôi thì nó đơn giản hơn rất nhiều, nhưng vì nó có mối liên hệ, có sự tương tác giữa con người và hóa sanh, cho nên nó phức tạp hơn rất là nhiều.

Quý vị hiểu tương tác hóa sanh có rất nhiều mức độ khác nhau, có bốn mức độ tất cả (biết qua tâm người khác, cài đặt thông tin, tương tác thông tin và tương tác nguy hiểm), nhưng quý vị phải hiểu là không phải mọi tương tác đều là xấu. Chúng ta dùng từ là “tốt/ xấu” theo nghĩa bình thường trong cuộc sống này: tương tác giữa người này với người kia thì có những  tương tác đưa đến kết quả tốt, nhưng cũng có những tương tác đưa đến kết quả xấu. Tương tác giữa con người với con người không hoàn toàn là xấu cũng không hoàn toàn là tốt, có những trường hợp tốt, có những trường hợp xấu. Cũng tương tự như vậy, tương tác giữa hóa sanh với con người không hoàn toàn là xấu cũng không hoàn toàn là tốt, có những trường hợp kết quả là tốt, có những trường hợp kết quả là xấu.

Cho nên, quý vị phải nhìn nhận một cách khách quan chứ không nhìn nhận lệch lạc, cứ cho rằng hóa sanh tương tác với con người là đưa đến kết quả xấu xa tồi tệ. Mà quý vị phải thấy rằng có những kết quả tốt, có những kết quả xấu. Trong dân gian người ta nói rằng ông nọ bà kia là có quý nhân phù trợ, thực ra là người ta cũng không hiểu được nhưng mà đó chính là do tương tác hóa sanh đưa đến cho người đó những kết quả tốt.

5.1.  Quy luật tương tác giữa hóa sanh và con người

Quy luật tương tác giữa hóa sanh và con người là quy luật duyên khởi, nó là vô chủ vô sở hữu, không ai có thể làm chủ điều khiển được tương tác này. Kể cả hóa sanh cũng không điều khiển được tương tác, con người cũng không điều khiển được tương tác, mà tương tác này phát sinh theo Quy Luật. Đã là Quy Luật – thì như quy luật nước chảy từ trên cao xuống chỗ thấp – quy luật ấy không ai điều khiển được cả, hễ có đủ nhân đủ duyên thì nó xảy ra như vậy, Không ai điều khiển được quy luật cả.

Quý vị hình dung như thế này: Ví dụ như sóng phát thanh: trong không gian này có rất nhiều đài phát thanh với các tần số khác nhau, tức là có các sóng với các  tần số khác nhau. Một cái radio của quý vị, quý vị điều chỉnh khung dây để cho tần số dao động điện từ của khung dây đó trùng với tần số của một sóng phát thanh nào đó. Khi hai tần số này bằng nhau, do tính chất của tính sóng, của dao động cho nên mới xảy ra hiện tượng cộng hưởng, và lúc đó sóng phát thanh của đài đó mới tương tác được với radio. Lúc đó radio hoạt động, là tiếng nói vang lên. Trong không gian có rất nhiều sóng của nhiều đài phát thanh nhưng tại một lúc đó, tần số của radio đó chỉ cộng hưởng với một sóng phát thanh thôi, còn những phát sóng phát thanh khác không cùng tần số cho nên không xảy ra hiện tượng cộng hưởng.

Hoặc là quý vị hình dung như thế này, bây giờ có mạng Internet, là một mạng sóng điện từ, trong đó chứa rất nhiều loại thông tin, thông tin Google, Facebook, Zalo… Và trong máy điện thoại của quý vị cũng có rất nhiều thông tin, đó là các phần mềm Zalo, Facebook… Nếu như quý vị mở điện thoại lên bấm Facebook thì lúc đó lượng thông tin Facebook hoạt động, và lúc này lượng thông tin Facebook mới tương hợp với lượng thông tin Facebook ở trên mạng, và hai lượng thông tin đó tương tác với nhau, kết quả là ra các thông tin về Facebook. Còn lúc đó, lượng thông tin Facebook không thể tương tác được với lượng thông tin Google hay là Zalo… hai  lượng thông tin Facebook tương hợp với nhau mới tương tác được với nhau, lúc đó lượng thông tin là Google hay là Zalo ở trên máy này không hoạt động, cho nên nó không tương tác được với lượng thông tin ở trên mạng Internet.

Tương tự như vậy, sự tương tác giữa hóa sanh và con người cũng là tương tác thông tin, thông qua lưỡng tính sóng hạt của hóa sanh thì mới tương tác được với thân thể con người, lúc đó lượng thông tin hóa sanh mới tương tác được với lượng thông tin pháp trần của con người. Và phải có tương hợp mới tương tác được, chứ không phải mọi hóa sanh đều tương tác được với người đó. Mà lúc đó, với khoảng cách nào đó, lượng thông tin nào đó của hóa sanh tương hợp với người đó thì lúc đó mới tương tác được, chứ không phải tương tác được bất kỳ chỗ nào. Nó phải theo định luật tương hợp như vậy.

Vì vậy, cho dù là con người muốn tương tác hay không không muốn tương tác cũng không thể nào làm chủ điều khiển được, và kể cả hóa sanh muốn tương tác hay không muốn tương tác cũng không thể nào làm chủ, điều khiển được. Sự tương tác xảy ra theo quy luật của nó, đó là quy luật tương hợp các thông tin. Vì vậy không ai làm chủ được cả.

Có  trường hợp, thí dụ như có những ông thầy phù thủy hay là chỗ này chỗ khác có thể “đuổi” các hóa sanh đó ra… thì thực chất đây không phải là những người làm được điều đó, hay là có khả năng đó, bản thân họ không biết như vậy. Thực chất là những người đó cũng có những hóa sanh tương tác. Khi hóa sanh của người nọ tương tác với hóa sanh “nhập” vào người kia chẳng hạn, thì lúc đó là có tương tác giữa hóa sanh với nhau; và cũng giống như là con người, ai mạnh thì người đó thắng. Trong cuộc sống này, tương tác với nhau, đánh nhau hay là hù dọa nhau… người nào mà mạnh thì người đó áp đảo được người kia. Thí dụ như là giang hồ đâm thuê chém mướn thì người bình thường nó dọa cho cái là phải bỏ chạy. Thì cũng y như vậy, có những hóa sanh có năng lực lớn hơn, cho nên khi tương tác với những hóa sanh kia thì chúng ta hiểu là nó “đuổi” hóa sanh kia, cắt đứt tương tác của hóa sanh kia.

Quý vị phải hiểu tương tác hóa sanh là nó theo quy luật như vậy.

5.2. Làm sao để là hóa sanh không tương tác được?

Sự tương tác giữa hóa sanh và con người là do lượng thông tin ở trong bộ nhớ, chủ yếu là thông tin pháp trần. Vì vậy, nếu như thông tin của hóa sanh là Vô minh, Chấp Ngã thì khi lộ trình tâm của con người là Bát Tà Đạo, lúc đó lượng thông tin của con người cũng là Vô minh, Chấp ngã thì sự tương hợp giữa Vô minh, Chấp ngã của người và hóa sanh là yếu tố bao trùm. Lúc đó nếu có sự tương hợp ở các thông tin khác thì lúc đó xảy ra tương tác. Đương nhiên là không phải bao giờ cũng tương tác được nhưng mà yếu tố đầu tiên quyết định là lượng thông tin Vô minh, Chấp Ngã trong bộ nhớ của hóa sanh và của người là lộ trình tâm Bát Tà Đạo, thì đó là một yếu tố cần. Nhưng mà yếu tố đủ nữa là phải có những thông tin tương hợp khác, thì lúc đó mới tương tác được.

Nếu như một người đang tu tập Bát Chánh Đạo, lúc đó thông tin trong bộ nhớ không kích hoạt Vô minh, Chấp ngã, cho nên không tương hợp với thông tin của hóa sanh, lúc đó hóa sanh không thể nào tương tác được với người đó. Vì vậy, để hóa sanh không tác tương tác được với con người thì chỉ khi nào lộ trình tâm của người đó là Bát Chánh Đạo, lúc đó hóa sanh mới không tương tác được.

  1. Nguyên nhân khổ không phải do Hóa sanh

Các câu hỏi về hóa sanh thì quý vị nên dừng lại ở phần trả lời tổng quát ban đầu như trên, suy ngẫm kỹ càng. Quý vị sẽ thấy, mục đích của khóa học này không những đưa đến chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây, mà còn đưa đến kết quả là chấm dứt luân hồi tái sinh. Quý vị phải hiểu, không phải là tìm hiểu thế giới hóa sanh đó để đời sau quý vị tiếp nhận nó, mà quý vị phải thấy rằng, mục đích của bài hóa sanh là để quý vị sợ hãi lông tóc dựng ngược về nỗi khổ khủng khiếp của luân hồi tái sinh, để quý vị hướng đến học tập, thực hành để chấm dứt luân hồi tái sinh.

Cho nên, quý vị không cần phải tìm hiểu những vấn đề khác, quý vị hiểu được tính chất của nó rồi quý vị quyết tâm tu học để chấm dứt luân hồi tái sinh, chứ không phải là quý vị  tiếp tục hướng đến tái sinh, để tìm kiếm một hóa sanh nào tốt đẹp.

Rồi quý vị thấy, mọi nỗi khổ của con người trong hiện tại này không phải do thế giới ngoại cảnh mang đến phải không? Trong trường hợp này, chúng ta cũng cho hóa sanh là thuộc về thế giới ngoại cảnh, đúng không? Quý vị phải khẳng định, phải nhớ được nguyên nhân của khổ là cái Biết Tà kiến làm phát sinh Tham Sân Si.

6 Căn tiếp xúc 6 Trần phát sinh ra thực tại, trong 6 Trần đó có một yếu tố là hóa sanh. 6 Căn và 6 Trần đó không phải là nguyên nhân đưa đến khổ. Mà nguyên nhân khổ là cái Biết Tà kiến làm phát sinh Tham Sân Si, phát sinh khổ. Cho nên muốn hết khổ thì phải quan tâm đến việc học Tứ Thánh Đế, hành Bát Chánh Đạo, hành Tứ Niệm Xứ. Quý vị không nên quá băn khoăn về hóa sanh. Hóa sanh đâu làm quý vị khổ, mà chính cái Biết sai làm phát sinh Tham Sân Si, làm phát sinh khổ.

Nhiều người nghe bài Hóa sanh này rồi vẫn trở về với Tà kiến của mình là hóa sanh làm mình khổ, hóa sanh tương tác làm cho mình khổ, cũng giống như là người nọ người kia làm cho mình khổ, rồi việc nọ việc kia làm cho mình khổ. Làm gì có chuyện đó! Khổ là do là Tham Sân Si chứ đâu có phải do những yếu tố đó.

Quý vị phải nhận thức cho đúng như vậy, sâu sắc như vậy để quý vị giải quyết ngay vấn đề băn khoăn của mình. Khi quý vị băn khoăn như vậy là quý vị còn cho rằng nỗi khổ của mình là do hóa sanh. Sự thực, nỗi khổ của quý vị là do cái Biết sai, cái Biết Tà kiến, do Tham Sân Si, chứ không phải là do hóa sanh. Cho nên quý vị muốn giải quyết mọi vấn đề của mình, mọi nỗi khổ của mình thì phải thực hành Tứ Niệm Xứ.

Câu 2:  Con người có hệ điều hành không?

Thưa sư, con hiểu là tất cả những gì diễn ra trong con người cả sắc pháp cũng như danh pháp là tự động. Các pháp này tự động duyên nhau để làm cho cơ thể cân bằng và tồn tại. Nhưng con lại hiểu trong con người vẫn phải có một pháp đóng vai trò hệ điều hành, giống như trong máy tính hay điện thoại để hoạt động được thì phải có hệ điều hành là window, android, ios… Vậy liệu con người có hệ điều hành không, và nếu có thì nó là danh hay sắc hay vừa danh vừa sắc pháp ạ?

Trả lời:

Con người là một “Robot sinh học” hoàn thiện nhất, gồm có phần cứng và phần mềm như robot máy tính hoặc xe ô tô tự lái. Phần Cứng là Sắc, là phần vật chất thân thể, Phần Mềm là Danh, là thông tin gồm THÔNG TIN DI TRUYỀN và THÔNG TIN PHÁP TRẦN.

Khi ngủ say không mộng mị, mọi hoạt động của thân thể như tim, gan, thận… do lập trình THÔNG TIN DI TRUYỀN “điều hành”.

Khi tỉnh thức mọi hoạt động thân tâm do lập trình THÔNG TIN DI TRUYỀN và lập trình THÔNG TIN PHÁP TRẦN “điều hành”.

Lúc ngủ say không mộng mị, sáu Căn là 6 loại tế bào thần kinh không hoạt động nên không có Xúc giữa 6 Căn và sáu Trần, không phát sinh lộ trình tâm. Tuy Thông tin pháp trần được lưu trong bộ nhớ vẫn có đó nhưng không tương tác nên không có lộ trình tâm, không có tâm. Tâm là pháp duyên khởi nên nó vô thường, khi có khi không. Khi có XÚC giữa Căn và Trần thì có Tâm, khi Căn – Trần không có XÚC thì không có Tâm. Tâm sinh rồi diệt chứ không thường hằng thường trú đâu cả.

Câu 3:  Khi rơi vào cảnh giới hoá sanh, làm sao để nhớ lại “thực tại chỉ là cảm giác”, và nhớ lại tiến trình Bát Chánh Đạo đã từng tu tập khi sống?

Trả lời:

Điều này phụ thuộc vào sự tu tập hàng ngày của quý vị. Quý vị phải hiểu là các trạng thái tâm, cho dù là Bát Tà Đạo hay Bát Chánh Đạo thì đều được lưu vào bộ nhớ trong cấu trúc ADN. Nếu như hàng ngày quý vị tu tập, đặc biệt là quán Thọ hoặc quán Tâm, quý vị dành nhiều thời gian quán cảm giác pháp trần thì đương nhiên hiểu biết, tuệ tri đó được lưu giữ vào bộ nhớ của tâm thức. Và quý vị thực hành mà càng nhiều, càng sâu thì lượng thông tin hiểu biết, trí tuệ Minh đó sẽ được lưu giữ vững chắc trong bộ nhớ, nổi bật trong bộ nhớ.

Vì vậy quý vị sau khi chết mà còn hóa sanh thì người ít tu tập, người không quán cảm giác pháp trần nhiều, người mà trạng thái tâm BÁT CHÁNH ĐẠO khi tu tập ít, lưu giữ vào bộ nhớ ít, lộ trình tâm BÁT TÀ ĐẠO nhiều thì lộ trình tâm của hóa sanh sẽ khởi lên lộ trình tâm chủ yếu là BÁT TÀ ĐẠO. Còn người mà tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO nhiều, trạng thái định lưu vào đó nhiều, tuệ lưu vào đó nhiều nhưng chưa đủ mức để chấm dứt tái sinh trong tiến trình chết, khi chết hóa sanh xuất hiện thì lượng thông tin Minh và các lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, các trạng thái định đó là nổi trội, cho nên theo tính chất tự nhiên, theo quy luật thì lộ trình tâm của hóa sanh khởi lên là phát sinh các ‘cảnh giới’ an lành, các trạng thái tâm vui và thoải mái, cái hỷ lạc nội tâm. Rồi tuệ tri về cảm giác pháp trần khởi lên, và hóa sanh nhớ được ngay những cái này là cảm giác pháp trần.

Quý vị hiểu rằng khi mơ mà quý vị hiểu mình đang mơ thì làm gì có thích ghét sợ hãi với những cảnh trong mơ nữa. Còn khi mơ mà không biết mình đang mơ thì những cảnh tượng khủng khiếp làm cho quý vị sợ hãi. Thì cũng y như vậy, khi là hóa sanh, lộ trình tâm khởi lên trạng thái hỷ lạc của Chánh định, rồi các hình ảnh, âm thanh… ở trong bộ nhớ khởi lên mà với tâm an lành, hỷ lạc, thì lúc đó hóa sanh không có khổ sở nào. Nhưng đặc biệt: không có khổ sở, cũng KHÔNG CÓ THÍCH THÚ VUI MỪNG vì là lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, và đặc biệt hiểu được những cái này là cảm giác pháp trần, như khi quý vị quán Thọ, quán Tâm thì nó cứ diễn tiến như vậy thôi, cho đến khi hết nghiệp đó. Lúc đó là nhập diệt, không còn vào thai sinh, trứng sinh nữa.

Cho nên để hóa sanh nhớ được điều đó sau khi chết thì hàng ngày quý vị phải tu tập, phải tích lũy những trạng thái tâm Bát Chánh Đạo đó, tích lũy trí tuệ đó vào trong bộ nhớ, thì lúc chết phát sanh hóa sanh thì những cái đó tự động khởi lên thôi.

Câu 4:   Sự tồn tại của hóa sanh sau khi nghiệp nổi trội cạn kiệt

Sau khi con người qua đời chuyển sang đời sống hoá sinh, cho đến khi cạn kiệt năng lượng thì lại chuyển vào thai sinh để sang kiếp người khác. Nhưng nếu như khi năng lượng hoá sinh cạn kiệt mà không tiếp xúc được với hợp thể trứng – tinh trùng thì hoá sinh đó sẽ tiếp tục tồn tại như thế nào ạ?

Trả lời:

Không phải hoá sanh tồn tại cho đến khi cạn kiệt NĂNG LƯỢNG (không có năng lượng nào thường hằng thường trú như quan điểm Duy vật) mà hoá sanh tồn tại cho đến khi cạn kiệt các nghiệp nổi bật, nghiệp chính trong đời sống của kiếp người. Lúc đó hoá sanh có đủ điều kiện Tương Tác với hợp thể trứng và tinh trùng và hoá sanh diệt.

Nếu giả sử tại không gian đó chưa có hợp thể trứng – tinh trùng có thông tin tương hợp thì chưa thể tương tác thì hoá sanh vẫn tồn tại, nhưng lộ trình tâm hoá sanh không phát sinh từ các thông tin Nghiệp nổi trội nữa (vì đã cạn kiệt) thì còn vô số các thông tin Nghiệp trong bộ nhớ mà tạo tác trong các kiếp người sẽ vận hành. Chừng nào mà hoá sanh “bắt gặp” một Hợp thể trứng và tinh trùng có thông tin tương hợp thì tương tác xảy ra và đời sống hoá sanh kết thúc.

Câu 5:  Làm sao có thể suy luận tâm thức hóa sanh nối tiếp tâm thức người chết? Vì sao một đứa trẻ sinh ra thường vô tư trong sáng?

Trả lời:

Tâm thức người chết (tính cách…) phụ thuộc vào thông tin pháp trần trong bộ nhớ của người đó. Khi người đó chết thành hóa sanh thì quá trình này là nối tiếp nhau: ví dụ lộ trình tâm của một người sinh lên rồi diệt đi nối tiếp nhau, trừ lúc ngủ say không mộng mị, hôm sau dậy lại sinh lên rồi diệt nối tiếp nhau. Cơ chế đó xảy ra phụ thuộc vào thân thể này (6 loại tế bào thần kinh) và phụ thuộc vào lượng thông tin trong đó. Cho nên tâm thức hóa sanh tiếp nối tâm thức người chết, cái trước duyên cho cái sau mà khởi lên. Cho nên tính cách là tương đối như nhau diễn tiến theo thời gian.

Khi hóa sanh đó tương tác với hợp thể trứng và tinh trùng thì cả hai cùng diệt, lúc đó KHÔNG CÒN LỘ TRÌNH TÂM NỮA mà chỉ còn thông tin lưu vào ADN của hợp thể trứng và tinh trùng. Từ các thông tin di truyền và pháp trần này sẽ bắt đầu phát triển, phân chia… trong thời kỳ đó không tồn tại lộ trình tâm, vì khi đó chưa có các tế bào thần kinh. Cho nên bào thai phải đến tháng thứ mấy đó mới có các tế bào thần kinh ở mức độ hoạt động được thì lúc đó mới có xúc, phát sinh lộ trình tâm.

Hết đời sống hóa sanh thì chấm dứt lộ trình tâm đó, còn khi vào bào thai mấy tháng không có lộ trình tâm. Khi các tế bào được phân chia và phát triển đến một mức độ nào đó thì mới phát sinh lộ trình tâm. Lộ trình tâm của thai nhi  hoàn toàn phụ thuộc vào lượng thông tin trong bộ nhớ đó, và phụ thuộc vào cơ thể vật chất của đứa bé mới sinh. Cơ thể vật chất cũng ảnh hưởng đến lộ trình tâm bởi vì nó lưu giữ thông tin. Nên đứa bé sinh ra, không có lộ trình tâm liên tiếp nối tiếp với lộ trình tâm hóa sanh với người đã chết, lộ trình tâm của đứa bé là bắt đầu hoàn toàn một lộ trình tâm khác.

Hóa sanh có quá khứ liên tiếp (là đời sống của người chết), khi vào thai sinh thì hóa sanh đã chấm dứt, không còn hóa sanh nữa, chỉ có lượng thông tin truyền vào thôi. Trong quá trình phát triển thì nó bị xào xáo, các tế bào thần kinh lúc này mới hình thành nên, các ADN lúc này mới phân chia các thông tin đó, nên không thể nào có lộ trình tâm như hóa sanh để nhớ được kiếp trước.

Trường hợp nhớ được: là do đột biến gen hoặc là do hóa sanh tương tác.

Còn khi đứa trẻ sinh ra, nó vô tư là vì sao? Có cái Thấy và cái Biết: cái Thấy phát sinh do 6 Căn tiếp xúc 6 Trần, sinh ra là có không cần học hỏi; cái Biết thì phải học hỏi rèn luyện mới có. Vậy nên với đứa trẻ, đặc biệt là dưới 7 tuổi thì nó sống chủ yếu với cái Thấy nên nó rất vô tư trong sáng.

Khi thực hành Chánh Niệm về thân, an trú cái Thấy thuần túy là chủ yếu thì lúc đó kinh nghiệm được cái vô tư trong sáng, đó là “chữa lành đứa trẻ bên trong”: phải hiểu biết là khi đứa trẻ mới sinh ra cho đến 7-8 tuổi nó rất trong sáng, vì sống bởi cái Thấy là chủ yếu, cái Biết đang hình thành, vẫn có cáu gắt nhưng ít và qua nhanh, còn lớn lên thì cái Biết nhiều thì khổ cũng càng nhiều.

“Chữa lành đứa trẻ bên trong” được hiểu là khi thực hành an trú cái Thấy, lúc đó là trở về với tâm trong sáng vô tư, những suy nghĩ đưa đến căng thẳng lo âu phiền não gần như không có.

Câu 6:  Hóa sanh không có “thân” thì làm sao cảm nhận được khổ?

Sư cho con hỏi là hóa sanh không có thân để cảm nhận nội xúc như con người thì làm sao cảm nhận được khổ ạ?

Trả lời:

Quý vị thấy rằng con người cảm nhận được khổ phải do nội xúc, nhưng hóa sanh vẫn có vật chất, vật chất đó là lượng tử cho nên cái khổ của hóa sanh thì vẫn có thể có sự tương tác với cái vật chất đó, phát sinh ra Cảm thọ đặc biệt. Cái này thì chúng ta cũng tư duy, suy luận, suy đoán thôi vì không cụ thể, suy đoán là vẫn có nội xúc phát sinh trên cái vật chất lượng tử hóa sanh.

Lộ trình tâm của hóa sanh là lộ trình tâm thứ sáu, những thông tin về khổ, về những cái đã trải nghiệm trong quá khứ vẫn nằm trong bộ nhớ, cho nên khi tương tác thì lộ trình tâm vẫn khởi lên tâm hành khổ, và lúc này hóa sanh cảm nhận tâm hành khổ, biết cái tâm hành khổ đó, nên vẫn biết những nỗi khổ, thông tin về các nỗi khổ.

Do thông tin về khổ được lưu trong bộ nhớ tương tác với nhau phát sinh ra cho nên hóa sanh vẫn cảm nhận cái khổ, cái khổ do tâm hành, biết cái tâm hành đó là khổ, và điều này cũng là tư duy trên suy luận thôi, không có cách gì kiểm chứng. Hóa sanh vẫn có vật chất, có thân thể vật chất là các photon lượng tử, photon sinh học cho nên vẫn có các nội xúc đó.

Câu 7:   Lý giải về hiện tượng thôi miên tiền kiếp

Trả lời:

Thôi miên tiền kiếp thực chất là tương tác hóa sanh. Không phải là những nhà thôi miên làm cho người đó đi vào trạng thái nửa ngủ nửa thức mà có hóa sanh tham dự, tương tác vào người đó. Nhưng cho dù có thấy tiền kiếp đầy đủ rõ ràng thì việc đó chỉ làm tăng Tham Sân Si, không làm cho người đó hết khổ được.

Câu 8:  Giải thích hiện tượng tiên tri

Trả lời:

Có một số những dự đoán cũng tương đối phù hợp với tương lai, nhưng không phải mọi tiên tri đều đúng với sự thật xảy ra, và nó đúng là đều do hóa sanh tương tác.

Mọi chuyện đều xảy ra theo quy luật nhân quả. Nếu thu thập đầy đủ dữ liệu, tư duy xảy ra là từ nhân mà có thể suy ra quả và từ quả có thể truy ngược lại để biết về nhân. Ví dụ nhìn bao nhiêu gạo bao nhiêu nước đó, nếu thông thạo nhân quả của việc nấu cơm thì sẽ có thể kết luận, khẳng định biết nó ra cơm hay ra cháo, cơm khô hay cơm nhão. Một người chưa nấu cơm bao giờ hoặc kém cỏi về việc nấu cơm thì khi nhìn tỷ lệ gạo và nước thì không thể đoán được kết quả sẽ ra loại gì.

Có một số trường hợp biết được tương lai xảy ra nhờ tương tác hóa sanh. Mà hóa sanh thì có thể thu thập biết được nhiều thông tin và nhờ đó mà có thể suy luận theo nhân quả để đoán được chuyện đó.

Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận