BÀI 19: ĐOẠN TRỪ VÔ MINH VÀ HỮU ÁI
Câu 1: Liễu tri hữu ái
Hữu Ái là tham ái khiến con người khi chết phát sinh Thức tái sinh. Việc đoạn trừ Hữu Ái là việc cực kỳ quan trọng của người tu tập. Con kính nhờ Thiền Sư giúp con Tuệ Tri thêm về Hữu Ái theo cấu trúc:Tuệ tri về hữu ái; Tuệ tri nguyên nhân của hữu ái; Tuệ tri đoạn diệt hữu ái và Tuệ tri con đường đoạn diệt hữu ái.
Trả lời:
Muốn Liễu tri Hữu ái phải Tuệ tri Hữu ái với bốn khía cạnh trên.
1- Tuệ tri Hữu ái là hiểu biết đúng sự thật về Hữu ái:
– Hữu ái là gì? Là tham ái sự sống, sự hiện hữu có thân xác cũng như không có thân xác mà chỉ có linh hồn (còn gọi là Phi Hữu ái).
– Nhân loại (ngoại trừ người giác ngộ) ai cũng tham sống. Hãy quan sát cuộc đời để tự mình chứng ngộ sự thật này.
– Biểu hiện của hữu ái, tham sống là ca ngợi sự kỳ diệu của sự sống, bảo vệ sự sống, phóng sinh, luật của một số nước cấm phá thai…
– Vì hữu ái, tham sống nên sợ chết. Quan sát nỗi sợ chết của nhân loại khi bị tai nạn, bệnh tật, chiến tranh…
– Vì tham sống sự chết nên gần kề cái chết đau khổ như thế nào, bệnh nan y đau khổ như thế nào…
– Vì hữu ái mà khi chết đau khổ và phát sinh thức tái sinh là Hoá sanh trôi lăn trong luân hồi…
– Nỗi thống khổ của Hoá sanh là do Hữu ái.
Dựa vào sườn bài này tự mình quan sát sự thật Hữu ái trong cuộc sống thực.
2- Sự thật Nguyên nhân Hữu ái: chính là Vô minh, Chấp ngã của Tà tri kiến trên Lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Nghe lại bài giảng Bát Tà Đạo.
3- Sự thật về Hữu ái đoạn diệt: Đó là chấm dứt Tham sống sợ chết, Đó là sự chấm dứt khổ khi bị bệnh tật hay tình huống đe doạ tính mạng, là chấm dứt tái sinh trong tiến trình chết, là Vô dư Niết bàn.
4- Sự thật con đường đoạn diệt Hữu ái: là Bát Chánh Đạo. Vì Bát Chánh Đạo có Chánh tri kiến do Minh, Trí tuệ khởi lên sẽ đoạn trừ Tà tri kiến, đoạn trừ Vô minh, Chấp ngã là nhân phát sinh Hữu ái.
Câu 2: Làm thế nào để bào mòn hữu ái và chấm dứt hữu ái?
Trả lời:
Nguyên nhân mọi nỗi khổ của nhân loại là do Dục ái, Hữu ái, Phi Hữu ái. Dục ái là tham ái lợi, tham ái danh, là nguyên nhân phát sinh khổ trong kiếp sống hiện tại. Hữu ái và Phi Hữu ái (gọi chung là Hữu ái) là tham ái sự sống, tham ái sự hiện hữu là nguyên nhân phát sinh khổ trong hiện tại và trong tái sinh luân hồi tương lai.
Dục ái, tham lợi tham danh làm phát sinh nỗi khổ thường xuyên của kiếp người, còn Hữu ái, tuy không phát sinh nỗi khổ thường xuyên liên tục như Dục ái, nhưng khi nó xuất hiện thì nỗi khổ do Hữu ái khởi lên khủng khiếp hơn rất nhiều nỗi khổ do Dục ái, đặc biệt là nỗi khổ kinh khiếp của tái sinh luân hồi.
Để bào mòn và chấm dứt Hữu ái, để chấm dứt khổ do Hữu ái gây ra, để đạt được mục đích đây là kiếp sống cuối cùng, sau kiếp sống này không còn một kiếp sống nào khác nữa, không còn hiện hữu bất cứ đâu, với bất cứ hình thức nào thì phải VĂN – TƯ – TU về Hữu ái.
1- VĂN về Hữu ái là nghe giảng, là nghiên cứu để có hiểu biết đúng sự thật nỗi khổ kinh khủng khi Hữu ái bị kích hoạt, khi tham sống sợ chết khởi lên. Bài giảng về nỗi khổ do Hữu ái khởi lên trong cuộc sống hiện tại khi tính mạng bị đe dọa, khi mắc các Căn bệnh nan y, khi phải thay tim ghép tạng… Bài giảng về nỗi khổ của kiếp sống Hoá sanh trong tái sinh luân hồi có trong khóa tu học 9 ngày.
Không những nghe, đọc lại bài giảng để biết đúng sự thật về nỗi khổ do Hữu ái gây ra trong đời sống hiện tại và tái sinh luân hồi, mà còn phải hiểu rằng Hữu ái có mặt là do tâm Biết ý thức Vô minh, Tà kiến làm phát sinh Hữu ái. Tâm Biết Vô minh, Tà kiến không hiểu biết đúng sự thật về thân tâm, về sống chết, cho rằng có một cái Ta đồng nhất từ quá khứ, hiện tại, vị lai, là chủ nhân chủ sở hữu của thân tâm, tài sản… nên ràng buộc với sự sống, sự hiện hữu. Dục ái đưa đến ràng buộc cũng làm phát sinh Hữu ái nhưng Vô minh, chấp thủ Bản ngã làm phát sinh Hữu ái mạnh nhất.
2- TƯ là Tư Duy về Hữu ái để bào mòn Hữu ái: có thể Chánh tư duy khi tọa thiền hoặc không tọa thiền. Đó là dùng những kiến thức đã học về Hữu ái: Sự thật về Hữu ái (khổ do Hữu ái là nhân); Sự thật về Nguyên nhân Hữu ái; Sự thật về Chấm dứt Hữu ái (chấm dứt khổ); Sự thật về Con đường chấm dứt Hữu ái, để tư duy về các sự việc được thấy nghe, cảm nhận, nhận thức về Hữu ái.
* Tư duy về nỗi khổ do Hữu ái phát sinh bằng các trải nghiệm của mình hoặc câu chuyện của người khác, tư duy về nỗi hoảng loạn khi tính mạng bị đe dọa, khi bị bệnh nan y, khi phải thay tim ghép tạng, nỗi khổ của hoá sanh do hoá sanh thể hiện khi tương tác với con người…. Trong muôn vàn nỗi sợ thì nỗi sợ chết là tột cùng nhất, kinh hoàng nhất. Phải tư duy thật đầy đủ, thật sâu sắc đến độ “lông tóc dựng ngược” vì nỗi khổ do Hữu ái phát sinh.
* Tư duy về nguyên nhân phát sinh Hữu ái bằng cách phanh phui ra Duyên khởi phát sinh Hữu ái là Duyên với Dục ái mà Ràng buộc với Danh Lợi, với vợ chồng, con cái, bố mẹ, họ hàng… và cái chính là Duyên với Chấp ngã mà phát sinh Hữu ái.
* Tư duy về chấm dứt Hữu ái, chấm dứt luân hồi tái sinh:
– Khi an trú Chánh định, an trú cái Thấy thuần túy, cái Thấy Tỉnh giác không có tham ái thì sẽ không có Dục ái, Hữu ái, Phi Hữu ái.
– Khi an trú cái Biết Chánh kiến sẽ không có Tham ái nên không có Dục ái, Hữu ái, Phi Hữu ái.
Khi an trú Bát Chánh Đạo có Định và Tuệ thì đó là đoạn trừ Vô minh và Hữu ái.
* Tư duy về Con đường đoạn trừ Vô minh và Hữu ái là tu tập Bát Chánh Đạo với sự thực hành Tứ Niệm Xứ.
3- TU là Tu tập Bát Chánh Đạo với sự thực hành Tứ Niệm Xứ tức rèn luyện bốn loại Trí nhớ Chánh về Thân Thọ Tâm Pháp.
* Thực hành trong mọi tư thế đi đứng nằm ngồi, ăn nói, làm việc để an trú Định, Tuệ hoặc Định – Tuệ song hành (Chỉ – Quán).
* Khi đối diện thực tế với tình huống tính mạng bị đe dọa lúc đó mới kiểm chứng được nỗi sợ chết (Hữu ái) còn nguyên xi hay đã được bào mòn đến mức độ nào, để tích cực tu tập. Có những người nỗi sợ kéo dài sau sự kiện xảy ra nhiều giờ, nhiều phút (hữu ái chưa bị bào mòn); có những người nỗi sợ thoáng qua, giật mình nhưng lập tức nhớ được điều đã học đã tư duy thì mọi sự yên bình trở lại ngay (hữu ái đã bị bào mòn); có những người đối diện với mọi tình huống đe dọa tính mạng đều bình thản (hữu ái đã đoạn trừ). Hãy kiểm tra, kiểm chứng nỗi sợ do Hữu ái, do tham sống, sợ chết trong tình huống thật cuộc sống. Khẳng định rằng khi an trú Bát Chánh Đạo với Định và Tuệ thì lúc đó không có Hữu ái với bất kỳ tình huống đe dọa tính mạng nào.
Đối với câu hỏi trên thì cũng kiểm tra hữu ái được phần nào nhưng không chính xác bởi nhiều trường hợp trong đó là các kịch bản đã chuẩn bị sẵn, không phải sự thật nên sự phản ứng chừng mực nào đó đã được chuẩn bị trước.
Câu 3: Phân biệt dục ái và hữu ái
Con từng đi thăm bệnh nhiều người bị ung thư hay nan y giai đoạn cuối, họ rất đau đớn và phần lớn chỉ mong sớm được chết thôi để không còn phải chịu đau đớn như vậy nữa. Cho con hỏi trong những trường hợp như vầy thì rơi vào “phi hữu ái” hay sao ạ? Nếu những người đó không tin vào kiếp sau, cũng không có ý muốn tái sinh vào một cảnh giới thiên đường cực lạc nào đó mà chỉ thực sự muốn chết để chấm dứt đau đớn đang hành hạ nơi thân thôi thì sẽ rơi vào “ái” nào ạ? Trước đây con thường bị ám ảnh bởi những kinh nghiệm như vậy nên có khuynh hướng “sợ đau” hơn là “sợ chết”. Bây giờ học được Chánh Pháp, biết quán Thọ để kham nhẫn với các Cảm thọ khốc liệt thì có phần nào “tự tin” hơn; nhưng vẫn còn lăn tăn là nếu mình còn “sợ đau” như trong các trường hợp như trên thì đó đơn thuần là “dục ái” – tức có Sân với Khổ thọ nên muốn xua đuổi nó và tham khởi lên muốn có lại cảm giác dễ chịu không đau đớn như khi chưa bị bệnh; hay là đã qua “hữu ái”, “phi hữu ái”… Kính mong sư khai thị thêm để con tư duy sâu hơn về vấn đề này ạ.
Trả lời:
Khi bệnh tật đau đớn cực độ, hay trầm cảm không còn hy vọng gì ở tương lai thì lúc đó những nỗi khổ của cuộc đời nó kinh khủng, không thể nào chịu đựng nổi. Lúc đó người ta bực bội (Sân) nên muốn xa lánh cái khổ kinh khủng, khó chịu đựng nổi nên muốn chết, quyết định tự sát. Lúc muốn chết hoặc quyết định tự sát đó là do Sân, do chán ghét cuộc đời, với Tà kiến chỉ có chết mới chấm dứt được cái khổ khủng khiếp này. Lúc này Hữu ái vẫn nằm trong bộ nhớ không được kích hoạt.
Nhưng khi cái chết bắt đầu xảy ra, khi đối diện với cái chết thì Hữu ái được kích hoạt, tham sống sợ chết sẽ bắt đầu chi phối. Khi hấp hối, khi đối diện cái chết thật, các Tà kiến và hữu ái được kích hoạt, tham sống sợ chết được kích hoạt thì NỖI KHỔ do tham sống sợ chết sẽ khởi lên còn khủng khiếp hơn rất nhiều nỗi khổ của bệnh tật, đau đớn, trầm cảm. Dân gian đã đúc kết cái nỗi sợ chết này bằng câu: Sống dương gian một ngày bằng ngàn năm âm phủ.
Khi hấp hối và chết, Hữu ái được kích hoạt, tham sống sợ chết được kích hoạt thì sẽ phát sinh Thức tái sinh.
Cho dù chết một cách đột ngột như rơi máy bay tan xác thì các tế bào thần kinh não bộ cũng có một khoảng thời gian chết có thể rất ngắn ngủi nên vẫn xảy ra tiến trình chết chứ chết không xảy ra tức thì. Và do thông tin Hữu ái được lưu giữ trong cấu trúc ADN nên sẽ có sự tương tác một cách tự động theo quy luật tương tác thông tin nên kết quả sẽ phát sinh Thức tái sinh.
Cái đau khách quan trong tiến trình chết thì Thánh Phàm gì cũng phải cảm nhận nhưng nếu chết theo lộ trình tâm Bát Chánh Đạo không còn bị Hữu ái chi phối, không còn tham sống sợ chết thì cái đau đó là khách quan, không bị phóng đại lên và thực chất không có gì ghê gớm. Còn chết với lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì cái đau khách quan đó bị Hữu ái, bị tham sống sợ chết phóng đại lên cả ngàn lần nên cảm nhận nó rất khủng khiếp.
Câu 4: Vấn đề An tử – có phạm tội sát sanh không?
Thưa sư, con thắc mắc về vấn đề an tử là có phạm sát sanh hay không khi một người đang đau đớn mỗi ngày và không có phương pháp điều trị. Hoặc trường hợp một người phải rất đau đớn rồi mới chết. Ý muốn an tử có hai trường hợp là xuất phát từ một mình bệnh nhân hoặc có gợi ý từ người trợ giúp. Tất cả (kể cả người bệnh) đều hoan hỉ đồng thuận theo phương án an tử. Theo con tìm hiểu thì cả người bác sĩ, người trợ giúp, và cả bệnh nhân đồng thuận thực hiện an tử đều phạm sát sanh.
Đức Phật dạy là nên trân trọng sự sống nhưng Đức Phật cũng dạy là nên sống trung đạo. Vậy liệu an tử, cái chết êm dịu tự nguyện, có phải là nhân đạo và từ bi không? Có phải là quyền của một người? Cái ham muốn được chết một cách êm dịu thì có phải là không có Chánh Niệm, vẫn còn bị lẫn vào Tham Sân Si? Nhưng nếu phải chịu quá nhiều đau đớn rồi mới được chết thì có còn là trung đạo không hay là đang hành khổ ạ (trong khi có phương pháp an tử để chết một cách êm dịu và nhẹ nhàng thanh tịnh hơn)?
Trả lời:
Sự thật Nguyên nhân Khổ của con người là THAM ÁI, bao gồm: Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái. Dục ái là Tham lợi và Tham danh, còn Hữu ái và Phi hữu ái có thể gộp lại làm một là Tham ái sự sống, sự hiện hữu với các hình thức khác nhau (gọi tắt là Hữu ái). Dục ái là nguyên nhân phát sinh các nỗi khổ trong đời thì đa phần người học Phật đều nhận thức được với các mức độ khác nhau, nhưng Hữu ái phát sinh khổ kinh khủng hơn nhiều thì ít ai biết đến, ít ai nói đến. Chính vì Hữu ái, vì tham ái sự sống, sự hiện hữu mà khi chết sẽ phát sinh Thức tái sinh (Hóa sanh) nối tiếp sự sống, sự hiện hữu, nối tiếp dòng luân hồi tái sinh.
Vì không Tuệ tri Hữu ái phát sinh khổ ngay trong hiện tại và đặc biệt là nỗi khổ kinh hoàng của luân hồi tái sinh nên đa phần ca ngợi sự sống, sự hiện hữu là kỳ diệu. Đa phần cho rằng Đức Phật tôn trọng, ca ngợi sự sống, sự hiện hữu. Đức Phật chủ trương bảo vệ sự sống, sự hiện hữu mới đề ra phóng sanh để bảo vệ sự sống sự hiện hữu của muôn vật muôn loài. Vì vậy, các tôn giáo trong đó có Phật giáo đa phần phản đối các phương pháp an tử, các phương pháp trợ giúp cho người muốn chết một cách nhanh chóng và an lành để chấm dứt các cơn đau kéo dài, các Căn bệnh nan y, kể cả người già muốn chết cho nhanh chóng.
Chủ trương phản đối an tử, cho rằng an tử là cố ý phạm tội sát sanh (gồm cả người chết, đến các y tế, bác sĩ trợ giúp) là xuất phát từ hiểu biết sai sự thật nguyên nhân khổ. Chủ trương này phát sinh từ Hữu ái, từ tham sống sợ chết.
Đối với đạo Phật thật, đạo Phật do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ và thuyết giảng là tu không những để chấm dứt khổ tâm trong hiện tại mà còn để chấm dứt luân hồi tái sinh, tu để “chết thật”, để đây là kiếp sống cuối cùng, sau kiếp sống này không còn kiếp sống nào nữa, chấm dứt sự hiện hữu ở bất kỳ đâu với bất kỳ hình thức nào.
Đối với những vị đã thấu triệt Tứ Thánh Đế, đã quyết tâm xác định đây là kiếp sống cuối cùng, đã thuần thục Tứ Niệm Xứ thì trong tiến trình chết các Khổ thọ trên thân còn một chút xíu không đáng kể và cái chết sẽ xảy ra an lành cả thân và tâm. Một vị như vậy nhưng bị các Căn bệnh nặng, Khổ thọ khốc liệt trên thân và vị ấy tuệ tri không cần phải kéo dài các Khổ thọ khốc liệt, vị đó có thể “mang lại con dao” bằng cách nhịn ăn hoặc nếu có điều kiện có thể chọn phương pháp trợ giúp an tử mà không có phạm tội gì. Trong Trung Bộ Kinh cũng mô tả vị Tỷ kheo bệnh nặng đã “mang lại con dao” mà Đức Phật đã xác chứng vị đó không có tội tình gì.
Đối với người không am hiểu Tứ Thánh Đế, không tu tập Bát Chánh Đạo thì họ chết theo cách an tử là tùy theo hiểu biết của họ, tùy theo lựa chọn của họ. Nhưng dù chết sớm hay chết muộn, chết bằng an tử hay không thì họ đâu có chết thật, họ chỉ “qua đời” thôi, tiếp nối một đời sống khác trong cái vòng luân hồi sinh tử thôi. Vả lại, chết bằng an tử có thể rút ngắn các cơn đau khốc liệt trên thân trong kiếp sống này nhưng có thật sự an không thì cũng không chắc. Bởi vì các chất thuốc cực độc có thể giết chết người đó trong thời gian ngắn ngủi nhưng chắc chắn cũng gây nên một cảm giác kinh khủng, vì thân thể tương tác với chất cực độc, tuy khoảng thời gian này rất ngắn ngủi. Và cái cảm giác khốc liệt này trong cận tử nghiệp sẽ diễn tiến tiếp theo khi phát sinh Hóa sanh và Hóa sanh sẽ phải gánh chịu Cảm thọ khốc liệt này.
Chánh kiến sẽ không phản đối cũng không tán thán phương pháp an tử, tùy theo nhận thức của mỗi người Bát Tà Đạo hay Bát Chánh Đạo mà có sự lựa chọn.
Câu 5: Chết đột ngột có thể chấm dứt tái sinh không?
Nếu một người có thể cắt xúc bằng cách cho tiêm thuốc mê để rơi vào trạng thái hôn mê sâu (không còn lộ trình tâm) rồi đột ngột làm chết não, hoặc một cách gì khiến não chết đột ngột trong khi hôn mê sâu thì khi ấy người ấy không còn lộ trình tâm, không còn phát sinh hoá sanh. Dùng cách như vậy người ấy cũng có thể đạt được trạng thái vĩnh viễn không còn tái sinh phải không ạ?
Trả lời:
Không nên đi tìm hiểu một Giả thiết mà chỉ nên khám phá sự thật đang xảy ra. Giả thiết gây mê sâu rồi tìm phương pháp cho chết não nhưng sẽ lại rơi vào giả thiết dùng phương pháp gì đó để giết chết tế bào não, liệu lúc đó phương pháp đó tương tác với thuốc mê liệu có đánh thức tế bào não không? Và vân vân… các giả thiết khác, sao có thể giải quyết được vấn đề.
CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT để chấm dứt sinh tử luân hồi là BÁT CHÁNH ĐẠO.
Câu 6: Người tu Bát Chánh Đạo có cần chữa bệnh không?
Thưa Sư, con người vì hữu ái nên tham sống sợ chết, nên khổ. Trường hợp bị bệnh tật, vì muốn cứu mạng sống của mình mà mình chữa chạy, nhưng trong Bát Chánh Đạo thì ở đây con đang hiểu là vì không sợ chết nữa nên mình cũng không cần phải tìm phương thuốc làm cái gì để chữa trị nữa. Con hiểu như vậy có đúng không ạ?
Trả lời:
Quý vị thấy, đích đến cuối cùng là gì? Là vô dư niết bàn, nghĩa là chết thật. Quý vị thấy rằng, vị A la hán mới là chết thật, tức là khi 6 Căn hủy hoại không còn phát sinh tái sinh nữa, cho nên không có đời sau. Phàm phu hết kiếp sống này lại tái sinh một kiếp sống khác, cho nên phàm phu chỉ là qua đời thôi, chứ không bao giờ chết cả. Vòng luân hồi của phàm phu là hết đời này sẽ sang đời khác, cứ miên viễn như vậy, cho nên phàm phu không phải chết mà là qua đời thôi.
Ngay trong kiếp sống này đã bao nhiêu là khổ não, sau khi chết thành Hóa sanh, khổ còn kinh khủng đến mức độ nào. Rồi lại tiếp tục một kiếp sống, khổ của vòng luân hồi tái sinh đó vô cùng tận. Quý vị hình dung ra nỗi khổ của một người trong đời sống hàng ngày, khi mà 6 Căn tiếp xúc với 6 Trần thì biết bao nhiêu là nỗi khổ, vui thì ít, khổ thì nhiều, não nhiều mà nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng mà quý vị thấy, nếu tối đó từ 10 giờ đêm đến 6 giờ sáng, người đó ngủ được một giấc say không mộng mị thì quý vị đứng ngoài nhìn một cách khách quan, thời gian ngủ say không mộng mị từ 10 giờ đêm đến 6 giờ sáng đó nó hay hơn là thời gian hiện hữu. Thời gian từ 10 giờ đêm đến 6 giờ sáng ngủ say không mộng mị tương tự như là không hiện hữu, còn thời gian 6 Căn tiếp xúc với 6 Trần là hiện hữu, tuy rằng có vui có khổ nhưng vui thì ít, khổ thì nhiều, não nhiều mà nguy hiểm càng nhiều hơn. Cho dù khổ tâm được đoạn tận như vị A la hán nhưng vẫn còn khổ dư sót. Nếu trạng thái ngủ say không mộng mị đó được kéo dài vĩnh viễn có hay hơn là thức dậy không?
Đức Phật đã chứng ngộ, đã thuyết pháp về chấm dứt Luân hồi tái sinh, có nghĩa là quý vị hình dung, khi mà vị A la hán nhập diệt thì giống như là một giấc ngủ say không mộng mị vĩnh viễn, vĩnh viễn như vậy, không xuất hiện, không tồn tại ở bất kỳ nơi đâu, với bất kỳ hình thức nào. Mục đích của sự tu là chấm dứt tái sinh, nói nôm na là “chết thật” chứ không phải qua đời. Mục đích là như vậy, nhưng rõ ràng chúng sanh còn dục ái, hữu ái, phi hữu ái, tuy rằng nghe như vậy nhưng bản chất của hữu ái là muốn tồn tại mãi mãi, bản chất của Chấp ngã là muốn không sinh không diệt, cho nên ai cũng muốn cuộc đời bất diệt, muốn hiện hữu, muốn tồn tại.
Cho dù là không muốn tồn tại có thân xác thì tồn tại không có thân xác ấy là do hữu ái, cho nên phàm phu bám víu lấy sự sống, khao khát sống, mong muốn sống, cho nên cố gắng làm sao để mà sống, bởi vì quan niệm sống là hạnh phúc, chết là đau khổ. Nhưng mà họ không biết rằng trạng thái chết mà không còn tái sinh thì đó mới là trạng thái tuyệt đối.
Nếu như một người đã hiểu biết cái này, đã hiểu biết về nguyên nhân đau khổ của cuộc đời, của Luân hồi tái sinh là ba ái và hướng đến đoạn tận ba ái, đặc biệt là người đó không hướng đến tái sinh nữa, người đó hướng đến chấm dứt tái sinh, người đó hướng đến làm thế nào đây là kiếp sống cuối cùng của mình, sau kiếp sống này không có kiếp sống nào nữa – Người mà đã như vậy thì người đó sẽ không sợ chết bất kỳ lúc nào, bởi vì người đó biết rằng lúc này mình chết là cơ hội để đi đến đích cuối cùng.
Một người hiểu biết như vậy, giả sử người đó bị bệnh ung thư bị thì người đó không còn chạy chữa, chờ đợi đến giờ phút chết. Quý vị thấy rằng nỗi đau khổ của người bình thường do hữu ái khởi lên. Những bệnh tật trên thân là một nỗi khổ, nhưng mà nỗi hoảng loạn, sợ hãi đối với cái chết mới là kinh khủng. Nỗi khổ sở nội tâm đó mới kinh khủng.
Nếu như là những người thấy Pháp, ngộ Pháp mà đã tu tập vững chắc, tôi tin chắc chắn rằng nếu như là bệnh ung thư, biết là bệnh này đưa đến chết thì vị đó chấp nhận nó, không vui mừng nhưng mà cũng không có sợ hãi gì cả, đón chờ giờ phút để mà chết. Tu tập, luyện tập để đạt đến cái chết và chấm dứt tái sinh. Cho nên đối với những người mà đã thấy Pháp ngộ Pháp, tu là để chết như vậy, không còn qua đời nữa, thì đối với những bệnh nan y đưa đến cái chết thì không còn sợ hãi lo lắng mà đón chờ nó, chờ đợi nó để đi đến cái đích cuối cùng là nhập diệt.
Nhưng mà bây giờ lại có giả thiết: nếu như là những bệnh thường thường thì vị đó có chữa không? Đó là trả lời câu hỏi của cô. Nếu như bệnh thường thường thì nó gây nên những Khổ thọ trên thân. Nếu như biết rằng có những loại thuốc chấm dứt được cái Khổ thọ đó thì người đó vẫn chữa để chấm dứt cái khổ dư sót đó. Cái khổ dư sót đó chỉ có thể là thay đổi duyên xúc. Đương nhiên là nếu như chúng ta chữa được thì chữa, mà không chữa được cũng không sao, có điều kiện thì chữa và không có điều kiện thì cũng là không còn cái khổ nội tâm nữa.
Thí dụ như là quý vị ngứa. Ngứa là do duyên xúc, là một cảm giác trên thân, do thân Căn tiếp xúc với nội xúc Trần mà phát sinh. Quý vị biết như vậy. Và quý vị cũng kinh nghiệm, hiểu biết rõ hàng ngày là khi thay đổi duyên xúc, lấy tay gãi chỗ đó, như vậy là chấm dứt cảm giác ngứa. Có một cảm giác khác khởi lên là chấm dứt, thay đổi cái cảm giác ngứa. Thế thì đây là hiểu biết đúng sự thật, phải không? Nếu như quý vị biết như vậy mà quý vị cố chịu đựng, cố không gãi, thì có phải đó là khổ hạnh không? Là một cực đoan khác.
Khổ Thọ trên thân này do duyên xúc mà khởi lên, cái đó thánh phàm đều như nhau, nhưng nếu như chúng ta biết rằng có những cái xúc khác mà nó làm thay đổi được cái đó, chấm dứt được Khổ thọ đó thì tại sao chúng ta không làm? Đó là một cái trong kinh điển Đức Phật nói, là các bậc thánh không từ chối các Lạc thọ hợp pháp.
Thí dụ như là Đức Phật còn tại thế, Ngài đang đi trên đường, giả sử mưa tầm tã. Đương nhiên là mưa tiếp xúc với thân Ngài sẽ phát sinh một cảm giác Khổ thọ, và lúc đó nếu như không có cái gì, Ngài vẫn đi, chỉ có Khổ thọ trên thân mà tâm vắng lặng. Nhưng mà giả sử trên đường có một cái chòi lá vắng, không có nước mưa, lúc đó Ngài có vào đó để trú không? Ngài vào đó để trú, để tạo nên cái duyên xúc mới, lúc này là không khí tiếp xúc với thân phát sinh cảm giác, nó thay thế cái cảm giác ở bên ngoài. Cho nên đó là hiểu biết đúng định luật Duyên khởi, hiểu biết đúng làm giảm thiểu cái Khổ thọ còn dư sót, thì đó là trí tuệ.
Nếu như một người thấy Pháp, ngộ Pháp, người đó quyết tâm tu để chấm dứt tái sinh, để kiếp sống này là cuối cùng, đương nhiên với những bệnh nan y đưa đến cái chết chắc chắn là người đó bình thản đối với cái bệnh đó, chấp nhận cái bệnh đó, rồi tu tập để đón chờ thời điểm chết, để chấm dứt tái sinh. Nhưng mà với các bệnh khác đưa đến đau, đưa đến Khổ thọ trên thân mà chữa được thì vị đó vẫn chữa, đó là trí tuệ chứ không phải là không chữa.
Câu 7: Còn hiện hữu là còn khổ
Cho con hỏi, có phải Phật hay một bậc A la hán có thể dùng tâm duy tác của mình sau khi xả bỏ thân này, như lý tác ý nguyện tái sinh thân người hay hóa sanh để độ ông, bà, cha, mẹ oan gia, trái chủ của mình ở các cảnh khổ? Vì theo con được biết Phật rất hoan hỉ và vui mừng những đệ tử như Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật địa tạng vì tất cả chúng sanh mà tự độ mình và độ tất cả tu đến ngày Chứng Vô Thượng Bồ Đề Chánh đẳng Chánh giác chứ không phải Phật Độc giác.
Trả lời:
Quý vị cũng tiếp thu rất nhiều trường phái Phật giáo khác nhau nhưng quý vị đã được giới thiệu đầu tiên là Giáo Pháp này có 5 tính chất: thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không bị chi phối bởi thời gian, có tính chất hướng thượng, cho người trí tự mình giác ngộ.
Nếu một người đắc quả A la hán thì người đó đâu còn Hữu ái để mà còn phát nguyện tái sinh cuộc đời này – còn tái sinh là còn luân hồi. Giáo Pháp này để chấm dứt luân hồi, chấm dứt sự hiện hữu chứ không phải để tái sinh, để luân hồi. Và người giác ngộ hiểu được tính chất vô chủ, vô sở hữu của các pháp, không thể nào làm chủ, điều khiển được các pháp. Vậy thì những vị giác ngộ không còn ảo tưởng là mình có thể thay đổi được thế giới, mình có thể độ thoát được chúng sanh.
Người nào muốn chấm dứt khổ thì phải tự mình chứ không ai làm được cho ai cả, cho dù là một người giác ngộ. Phật giác ngộ, Ngài chỉ giảng dạy Giáo Pháp đó thôi, còn một người giảng dạy Giáo Pháp mà người đó không hiểu thì không thể giác ngộ được; và giảng dạy rồi mà không thực hành thì bản thân người đó không thể giác ngộ được, Phật không làm gì được.
Kể cả còn tại thế Phật cũng chẳng có thể độ thoát cho ai được cả, Phật chỉ là giảng dạy Giáo Pháp thôi, còn giác ngộ, chấm dứt khổ hay không là tùy thuộc vào người đó. Cho nên, phát nguyện tái sinh là hiểu biết về sai Giáo Pháp, đó là tiếp tục luân hồi. Và đối với một vị giác ngộ, hiểu rằng nếu mình nói ra Giáo Pháp nhưng không độ được ai cả, duyên của người đó, người đó hiểu rồi thực hành và tự người đó giác ngộ thôi. Không có chuyện một vị giác ngộ rồi lại còn tiếp tục phát nguyện tái sinh để mà giải thoát chúng sanh.
Quý vị thấy tính chất vô chủ, vô sở hữu: không ai có thể làm chủ, không ai có thể điều khiển được thế giới này, nên nói rằng tu là để làm đẹp cho cuộc đời, để cho cuộc đời này hết khổ, đó là ảo tưởng. Không ai làm được cho ai hết khổ cả, kể cả Đức Phật, nếu Đức Phật làm cho mọi người hết khổ thì thời Ngài tại thế ở Ấn Độ đã làm cho mọi người hết khổ rồi.
Một người giác ngộ, đã đạt đích đến là chấm dứt khổ, trong đó có chấm dứt khổ của luân hồi, không còn tái sinh. Sau khi vị đó chết, không còn hiện hữu, không còn tồn tại ở bất kỳ chỗ nào, bất kỳ hình thức nào. Trong kinh điển còn ghi lại lời của Đức Phật nói rằng: phân thì rất hôi thối, cho dù là một chút xíu dính trên đầu móng tay thì vẫn hôi thối, cũng y như vậy, còn hiện hữu là còn khổ, cho dù sự hiện hữu đó ngắn như một chút móng tay. Cho nên, kể cả Đức Phật, còn hiện hữu là còn khổ, cho dù cái hiện hữu đó ngắn như một chút cái móng tay thì vẫn còn cái khổ dư sót, cái khổ gọi là Niết bàn hữu dư, vẫn còn khổ. Chỉ khi nào nhập diệt Vô dư Niết bàn, hình dung giống như một người ngủ say không mộng mị vĩnh viễn, vĩnh viễn thì khổ mới đoạn tận, không còn dư sót.
Quý vị suy nghĩ sâu cái này, kinh nghiệm sự ngủ say không mộng mị là có thể hiểu được: ngủ say không mộng mị vĩnh viễn giống như một vị A la hán nhập diệt là như thế nào, sẽ thấy rằng đó là mục đích đến cuối cùng. Khi đạt được đích đến là chấm dứt sự hiện hữu gọi là khổ diệt, không còn dư sót hay thuật ngữ Phật học gọi là Niết bàn vô dư – khổ không còn dư sót nữa, thì đó là chấm dứt sự hiện hữu. Mục đích đến là vô dư Niết bàn như vậy thì làm gì có chuyện lại còn phát nguyện tái sinh để độ thoát cho mọi người.
Câu 8: Nguyên lý của nhập diệt
Cách đây hơn 2.600 năm, Đức Phật đã có cơ sở nào hay thân chứng, quan sát nào đó để Đức Phật có thể biết được ở trạng thái đó nếu chết đi thì sẽ không thành hóa sanh?
Trả lời:
Đương nhiên Đức Phật đã có thuyết giảng, trong kinh nêu lên rõ: Một người hỏi Đức Phật “Nhập diệt là như thế nào?”. Đức Phật mới nói là:
– Bây giờ một ngọn đèn đang cháy sáng ông có biết không?
– Bạch đức Thế Tôn, con thấy nó đang cháy sáng.
– Vậy thì ngọn đèn cháy sáng là do duyên gì? Do duyên bấc với dầu. Vậy thì bây giờ hoặc dầu hết hoặc bấc hết thì ngọn đèn có tắt không?
– Bạch Thế Tôn, ngọn đèn tắt.
– Vậy thì khi ngọn đèn tắt nó đi đâu không? Không thể nào nói ngọn đèn tắt nó đi đâu cả, nó tắt là hết thôi.
Đức Phật nói đó là hình tượng nhập diệt, là dầu hết đèn tắt. Ngọn đèn đó tắt thì không hiện hữu bất kỳ nơi nào cả. Nghĩa Như Lai là sinh không từ đâu đến, diệt không đi về đâu. Khi diệt đi không tồn tại bất kỳ một hình thức nào, bất kỳ một nơi chốn nào.
Dĩ nhiên một con người còn có hữu ái thì không bao giờ hiểu được điều này, không bao giờ hiểu nhập diệt giống như một người ngủ say không mộng mị vĩnh viễn. Hình ảnh này tương tự như ngọn đèn tắt thì nó chấm dứt. Vì dục ái, hữu ái và phi hữu ái chi phối nên nhiều người sau khi nghe nhập diệt như vậy, chấm dứt tái sinh như vậy thì có hơi buồn. Lúc nghe nói thì thấy rất hợp lý nhưng sau đó ngẫm lại thì thấy rất buồn. Thậm chí có những người nói thẳng với tôi là: “Tu hành bao nhiêu công sức, cố gắng nỗ lực mà kết thúc là chấm dứt tất cả như vậy thì buồn quá!”. Có phải tư tưởng của họ đang còn bị dục ái, hữu ái, phi hữu ái chi phối không? Vì họ đang còn muốn tồn tại để bám víu cái gì đó.
Ví dụ, nếu nói nhập vào Niết bàn là nhập vào một cảnh giới thường lạc ngã tịnh, phúc lạc toàn vẹn, pháp hỷ sung mãn, kỳ diệu màu nhiệm nào đó thì chắc chắn nhân loại ai cũng thích vì nó phù hợp với dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Người nào hiểu được dục ái, hữu ái, phi hữu ái là nguyên nhân đưa đến những nỗi thống khổ nào thì mới chấp nhận, hiểu ra được cái đó. Người nào đoạn tận được dục ái, hữu ái, phi hữu ái thì không còn cái gì để mà bám víu nữa, bây giờ có sống như thế này hay chết như vậy thì cũng như nhau thôi, không có gì phải luyến tiếc cả.
Kể cả ông tổ Long Thọ trong Phật giáo cũng viết trong tác phẩm của mình là “Chẳng nhẽ là tu ba bốn a tăng kỳ kiếp mà chỉ sống 45 năm như vậy là hết tất cả sao? Không đáng công”.
Quý vị thấy, tất cả đều giải thích nhập diệt trên cái dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Nếu thấy còn hiện hữu là còn khổ, cho dù hiện hữu là chư thiên hay là gì, thì nhập diệt là chấm dứt tất cả như một người ngủ say không mộng mị vĩnh viễn. Người có trí hiểu là không có thế giới tâm linh không sinh không diệt nào, tâm thức là sinh diệt.
Người Phật tử đến chùa thắp hương thì trong thẳm sâu tâm thức vẫn nghĩ là Đức Phật đang hiện hữu, tồn tại để phù hộ độ trì cho mình. Nếu vậy phải có một thế giới tâm linh không sinh không diệt. Niềm tin này, thường kiến này là một ông vua cai trị tâm thức của con người. Và đoạn kiến cũng là một ông vua sát lợi cai trị tâm thức của con người. Khi quý vị thoát ra khỏi thường kiến, đoạn kiến, thì thấy rằng không hề có thế giới tâm linh không sinh không diệt, không có thượng đế không sinh không diệt nào chi phối đời sống của nhân loại cả.
Cho dù có hiện hữu ở đâu với bất kỳ hình thức nào, cho dù là chư thiên đi nữa thì quý vị hiểu bản chất của cái khổ không thể trốn đi đâu được. Cho dù ở trời cao, biển lớn hay sa mạc hoang vắng, phố thị phồn hoa hay một cõi giới vi diệu nào đó thì không bao giờ con người thoát khỏi khổ nếu như vẫn còn dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Đặc biệt là còn hiện hữu là còn khổ. Khi so sánh như vậy thì nhập diệt, chấm dứt tái sinh tức là khi tế bào não chết không phát sinh ra phần vật chất vi tế đặc biệt mang lượng thông tin đi nữa; còn phát ra phần vật chất vi tế mang lượng thông tin đó là còn tái sinh, là còn khổ.
Từ trước đến nay nói luân hồi tái sinh được hiểu là tính cách, hiểu biết của một người chết được truyền từ người chết sang một kiếp sau, thân xác sau. Khái niệm luân hồi tái sinh là như vậy chứ không phải có một thực thể không sinh không diệt nào tái sinh cả. Người ta đưa ra chứng cứ luân hồi tái sinh thì đưa lên chứng cứ là hiểu biết và tính cách của người cũ. Người bây giờ nhớ lại được, biểu hiện tính cách, hiểu biết đó. Vậy thì rõ ràng lượng thông tin đi tái sinh là không thể chối cãi được. Đặc biệt thành tựu khoa học ngày nay trong thay tim ghép tạng đã chứng tỏ tính cách của người nhận đều do lượng thông tin đó mà phát sinh. Chỉ có khi chết ngủ một giấc không mộng mị vĩnh viễn như vậy thì đó là nhập diệt, chấm dứt luân hồi tái sinh.
Đương nhiên khi Đức Phật chết làm sao Ngài thuyết pháp được nữa. Nhưng người nào giác ngộ không những chứng được hữu dư Niết bàn mà còn hiểu rõ trạng thái vô dư Niết bàn, chấm dứt tái sinh. Đức Phật khi còn tại thế, Ngài cũng dùng hình ảnh “dầu hết đèn tắt” để nói về nhập diệt. Ngày nay hình ảnh này mới rõ ràng nhất là ngủ một giấc say không mộng mị vĩnh viễn, tương tự với phi hiện hữu. Cho nên, Niết bàn gọi là vô vi, không có cái gì hiện hữu cả. Vô dư Niết bàn là phi hiện hữu, không hiện hữu với bất kỳ hình thức nào, bất kỳ một nơi chốn nào.

