Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế BÀI 21: 37 PHẨM ĐẠO ĐẾ

BÀI 21: 37 PHẨM ĐẠO ĐẾ

Câu 1:  Quy y Tam Bảo có phải do Đức Phật đề ra không?

Con xin sư kiến giải giúp con về hiện tượng quy y Tam Bảo hiện nay trong Phật giáo: có phải do Đức Phật đề ra không? Con thấy tục lệ này hiện nay cũng rất khác nhau, rất nhiều cách thức hoạt động.

Trả lời:

Quy y Tam Bảo không phải do Đức Phật đề ra mà là Đạo Phật sau này đề ra. Đối với Đạo Phật, việc quy y này rất tốt, không có gì xấu, giúp người ta kết duyên với Tam Bảo: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đây là bước đầu, thuộc về Bát Chánh Đạo Hiệp Thế. Khi quý vị bắt đầu đến với Đạo Phật, quý vị học, quý vị cần nương tựa vào Tam Bảo. Đó là trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo – học đạo, Văn, Tư.

Tuy nhiên, khi quý vị thực hành Bát Chánh Đạo, lúc đó Bát Chánh Đạo Siêu Thế khởi lên. Khi đó quý vị độc lập, không ràng buộc, giải thoát, không hệ lụy. Mục đích của Bát Chánh Đạo Siêu Thế là để quý vị giải thoát, không nương tựa bất kỳ điều gì.

Đức Phật nói: “Hãy tự mình nương tựa nơi chính mình, nương tựa nơi Chánh Pháp, không nương tựa một gì khác.” Quan trọng hơn, Đức Phật định nghĩa: Thế nào là tự mình nương tựa nơi chính mình, nương tựa nơi Chánh Pháp, không nương tựa một gì khác? Đó là người sống với quán Thân nơi Thân, Nhiệt tâm, Tỉnh giác, Chánh Niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời; sống quán Thọ nơi Thọ, sống quán Tâm nơi Tâm, sống quán Pháp nơi Pháp, Nhiệt tâm, Tỉnh giác, Chánh Niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời. Người đó là tự mình nương tựa nơi chính mình, nương tựa nơi Chánh pháp, không nương tựa một gì khác.

Vì vậy, quy y Tam Bảo là bước đầu, là Bát Chánh Đạo Hiệp Thế. Khi thực hành Bát Chánh Đạo, không cần nương tựa Phật, Pháp, Tăng gì cả. Khi an trú, thực hành Tứ Niệm Xứ, đó chính là tự mình nương tựa nơi chính mình, nương tựa nơi Chánh pháp. Khi không có Chánh Niệm, Bát Chánh Đạo siêu thế không khởi lên, thì lúc đó người tu trở lại Bát Tà Đạo nhưng nhờ Bát Chánh Đạo hiệp thế nên quay về nương tựa Tam Bảo.

Con đường tu học mà Phật giảng dạy đi từ Bát Chánh Đạo hiệp thế sang Bát Chánh Đạo siêu thế, BẮT ĐẦU TỪ NƯƠNG TỰA TAM BẢO TIẾN ĐẾN KHÔNG NƯƠNG TỰA BẤT CỨ GÌ Ở TRÊN ĐỜI. Nếu suốt đời nương tựa Tam Bảo mà không tu tập Bát Chánh Đạo để vượt qua sự nương tựa tối thượng cuối cùng ấy thì vẫn là Ràng Buộc, mà còn Ràng Buộc là còn Phiền Não, cho dù Ràng buộc bởi dây xích bằng sắt hay bằng vàng ròng.

Câu 2:  Đức tin là quan trọng – có mâu thuẫn gì với 5 tính chất của Giáo Pháp không?

Trả lời:

Quý vị đã học về Ngũ Căn và Ngũ Lực, là năm yếu tố căn bản để đưa đến giác ngộ, bao gồm Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, Tuệ Căn. Trong đó Tín Căn là đứng hàng đầu. Nhưng quý vị phải hiểu rằng tín ở đây là Chánh Tín. Tín là đức tin. Quý vị phải quan sát, phải Tuệ tri được là có hai loại Đức tin: loại Đức tin thứ nhất là Mê tín và loại Đức tin thứ hai là Chánh Tín. Cho nên quý vị phải hiểu rằng cái tín trong Phật giáo nói đến là Chánh Tín chứ không phải là mê tín.

Quý vị đã quan sát mê tín rồi phải không? Đó là tin tưởng một cách mê mờ, mù quáng, không có suy xét, không có kiểm tra kiểm chứng. Còn Chánh Tín là phải trên cơ sở quan sát sự thật, rồi là kiểm tra kiểm chứng, rồi lúc đó mới tin.

Và TÍN ở đây là cụ thể là gì? Khi quý vị nghe giảng về Pháp học là nghe giảng về sự thật khổ hay là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Khi nghe giảng về Khổ đế (sự thật về khổ) và Tập đế (Sự thật nguyên nhân khổ) thì quý vị kiểm tra kiểm chứng được sự thật đó bằng đời sống đã qua của quý vị. Cho nên lúc đó đối với Khổ đế và Tập đế là quý vị đến để mà thấy, quý vị khẳng định được sự thật đó trong đời sống đã qua của mình trước đây. Khi được phân tích, chỉ dẫn, nghe giảng như vậy, quý vị đến để mà thấy Khổ đế và Tập đế, chứ không còn là tin về Khổ đế và Tập đế.

Còn khi quý vị nghe giảng về Đạo đế và Diệt đế, thì dựa trên những suy luận hợp lý, logic, rồi dựa trên sự thật về Khổ đế và Tập đế, quý vị được nghe giảng về Đạo đế và Diệt đế nhưng quý vị chưa từng kinh nghiệm được Diệt đế và Đạo đế, quý vị chưa tu tập Bát Chánh Đạo, quý vị chưa đến để mà thấy Bát Chánh Đạo được, chưa thể đến để mà thấy Đạo đế và Diệt đế được. Thực ra lúc đó là quý vị đang đến để mà tin, nhưng mà cái tin này là Chánh Tín – tin trên sự suy xét chứ không phải là tin trên hiểu biết mê mờ, mù quáng, áp đặt. Trên cơ sở Khổ đế và Tập đế, quý vị hiểu được lộ trình tâm, rồi quý vị được giới thiệu về lộ trình tâm Bát Chánh Đạo – lộ trình tâm không có Tham Sân Si, không có khổ. Thì lúc này là quý vị mới chỉ tin thôi, nhưng mà tin trên tư duy đúng đắn, trên sự thật nền tảng Khổ đế và Tập đế.

Cho nên tín lúc đó là Chánh Tín. Nếu như không có Chánh Tín, khi nghe giảng về Diệt đế và Đạo đế mà người đó không tin, nói cái này là tào lao, không thể nào có một lộ trình tâm mà trong đó không có Tham Sân Si, không có khổ, người đó không tin. Và nếu người đó không tin thì người đó có khởi sự tham gia các khóa tu tập Bát Chánh Đạo không? Chắc chắn là không. Cho nên chỉ khi nào mà người đó tin rằng có lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, có thể thực hành được cái lộ trình tâm Bát Chánh Đạo này theo quy luật Duyên khởi, có thể thực hành được nó và để mà kinh nghiệm được nó, kinh nghiệm được Diệt đế và Đạo đế thì lúc đó người đó mới khởi sự tham dự một khóa tu tập.

Cho nên, nghe giảng Pháp học, rồi do có Văn Tuệ, có Tư Tuệ, tức là Chánh kiến đó, lúc đó mới khởi lên niềm tin có thể tu tập được Bát Chánh Đạo, có thể là kinh nghiệm, thân chứng được Bát Chánh Đạo. Niềm tin đó là do Văn Tuệ và Tư Tuệ khởi lên, mới gọi là Chánh Tín, mới đưa đến tu tập Bát Chánh Đạo. Cho nên Tín dẫn đầu là như vậy. Tín rồi mới Tấn, rồi mới Niệm, Định, Tuệ. Nó là một lộ trình khởi lên theo tuần tự như vậy, theo Duyên khởi như vậy.

Câu 3:  Từ bi hỷ xả có phải là pháp tu mà Đức Phật truyền dạy không?

Trả lời:

Pháp học quý vị đã học là TỨ THÁNH ĐẾ, việc thực hành là thực hành ĐẠO ĐẾ – tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO. Để BÁT CHÁNH ĐẠO khởi lên thì chỉ cần Chánh Niệm khởi lên thì toàn bộ BÁT CHÁNH ĐẠO khởi lên. Như vậy, tu tập Bát Chánh Đạo cũng chính là tu tập TỨ NIỆM XỨ.

Tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO mục đích là để thay đổi THẤY và BIẾT: từ thấy là Tưởng tri sang Thắng tri và biết là từ không liễu tri sang Liễu tri. Thấy là Tỉnh giác thì đưa đến Tâm giải thoát. Biết là Chánh kiến thì đưa đến Tuệ giải thoát.

Để thay đổi Thấy và Biết thì phải tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO: với 8 chi phần Chánh Niệm, Chánh Tinh Tấn, Chánh định, Chánh tư duy, Chánh tri kiến, Chánh ngữ nghiệp mạng. 8 chi phần này không có từ bi hỷ xả nào cả.

Pháp hành trong Phật giáo là Tứ Niệm Xứ để khởi lên BÁT CHÁNH ĐẠO. Và để khởi lên BÁT CHÁNH ĐẠO thì phải có phần chuẩn bị: phải nghe giảng Pháp học, và tư duy cho rộng sâu rồi mới đưa đến thực hành. Nói đầy đủ gồm cả phần chuẩn bị nữa thì có 37 CHI PHẦN ĐẠO ĐẾ: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ Căn Ngũ Lực, Thất giác chi, Bát Chánh Đạo (hiệp thế và siêu thế). Trong 37 chi phần đó cũng không có từ bi hỷ xả.

Giáo lý này không có từ bi hỷ xả. Trong Trung Bộ Kinh Đức Phật đã nói: từ bi hỷ xả là pháp tu của Bà la môn giáo để còn hiện hữu, để được tái sinh làm Phạm thiên, là chúng sinh tối thắng theo quan niệm của Bà la môn giáo. Còn pháp môn Tu của Đạo Phật là tu để chấm dứt luân hồi tái sinh. Sau này các trường phái Phật giáo tiếp thu và đưa vào thành một phần của Phật giáo.

Nếu miễn cưỡng dùng “từ bi”: thì trên BÁT CHÁNH ĐẠO có Chánh ngữ, nghiệp mạng là lời nói hành động tử tế đúng mực, không phân biệt mọi đối tượng. Còn nếu hiểu TỪ BI là YÊU THƯƠNG – thực chất là LUYẾN ÁI thì không có trong pháp môn tu Phật giáo.

Câu 4:  Thích thực tại Bát Chánh Đạo, ghét thực tại Bát Tà Đạo thì có đúng không?

Trả lời:

Thích thực tại Bát Chánh Đạo, Ghét thực tại Bát Tà Đạo thuộc về DỤC NHƯ Ý TÚC trong Tứ như ý túc, là yếu tố cần phát triển cho viên mãn. Do Dục như ý túc mới phát sinh Tinh tấn như ý túc và do Tinh tấn như ý túc mới tu tập Định, Tuệ như ý túc. Nếu không Thích Bát Chánh Đạo (giải thoát), không Ghét Bát Tà Đạo (luân hồi) thì không thể tích cực tu tập Bát Chánh Đạo để giải thoát.

Bậc thánh nhập lưu có Tàm Quý có Xấu hổ, Sợ hãi là Xấu hổ còn Tham ái với Dục lạc, với Luân hồi. Sợ hãi lông tóc dựng ngược với luân hồi. Tàm Quý đó thuộc Dục như ý túc. Và Tàm Quý đó mới phát sinh tích cực, mới toàn tâm toàn ý tu tập Bát Chánh Đạo.

Sợ hãi đến mức độ lông tóc dựng ngược với thực tại thế gian, với tham ái, với luân hồi thì mới không còn cổ vũ tham ái, luân hồi. Còn chưa sợ hãi lông tóc dựng ngược thì vẫn xuôi theo tham ái, cổ vũ tham ái, khuyến khích, dẫn dắt người khác tham ái.

Câu 5:  Tức giận có ích lợi gì không?

Cho con hỏi tức giận có lợi ích gì không hay chỉ có hại, và nếu có lợi ích thì tức giận như thế nào mới là đúng ạ?

Trả lời:

Sân biểu hiện ra bằng Tức giận hoặc Sợ hãi trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo của người chưa học hiểu về Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, nghĩa là chưa có Văn tuệ (hiểu biết đúng sự thật về Khổ Tập Diệt Đạo do nghe), chưa có Tư tuệ (hiểu biết đúng sự thật do Tư duy về Văn tuệ) thì mọi biểu hiện của Sân đều là Nguyên nhân phát sinh Khổ, đều không có lợi ích gì, đều gây hại.

Có quan điểm cho rằng Tham Sân Si, khổ đau sẽ giúp cho con người học được bài học giác ngộ nên phải nâng niu chăm sóc cơn giận, sống trọn vẹn với thực tại đang là, trọn vẹn với Tham Sân Si (trọn vẹn với khổ) thì đó là giác ngộ… Nếu vậy thì thế gian đang từng giờ, từng phút sống “trọn vẹn” với Tham Sân Si, với khổ đau phiền não thì họ đã tự giác ngộ rồi đâu cần phải Học Phật, Tu Phật nữa.

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người duy nhất, có một không hai tự mình không thấy chỉ dạy, học ra bài học giác ngộ từ thực tại có Tham Sân Si, có khổ đau phiền não. Nhân loại muốn học bài học giác ngộ thì phải học nơi Đức Phật, ít ai tự mình giác ngộ sự thật được.

Người có Văn tuệ và Tư tuệ mới có sợ hãi lông tóc dựng ngược với thực tại thế gian có Vô minh, Tham Sân Si, phiền não, luân hồi. Người có Văn tuệ và Tư tuệ mới có xấu hổ và sợ hãi (Tàm quý) khi không tu tập Bát Chánh Đạo để cho Tham Sân Si chi phối. Người phải có Văn tuệ, Tư tuệ đầy đủ mới thốt lên: Thật là xấu hổ cho ta, thật là khốn nạn cho ta khi ta tự nhận là để tử Đức Thế Tôn mà lại cứ để cho Tham Sân Si xâm chiếm tâm ta

Đương nhiên khi xấu hổ, sợ hãi khởi lên thì tâm đó là Bát Tà Đạo và lập tức có phiền não do Sân nhưng tâm Bát Tà Đạo đó có Văn tuệ, Tư tuệ và gọi là Bát Chánh Đạo hiệp thế (chuẩn bị). Và Duyên với tâm Sân này mà phát sinh THAM MUỐN TU TẬP BÁT CHÁNH ĐẠO để chấm dứt khổ.

Chỉ có tâm Sân phát sinh trên Bát Tà Đạo có Văn tuệ và Tư tuệ này (Bát Chánh Đạo hiệp thế) mới có lợi ích, mới phát sinh Tham muốn tu tập Bát Chánh Đạo (Dục như ý túc). Khi tu tập Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo siêu thế khới lên thì cũng không còn tồn tại Dục như như ý túc, không còn tồn tại tham Sân do Văn tuệ, Tư tuệ khởi lên nữa.

Câu 6:  Hỷ giác chi

Kết quả đạt được trạng thái tâm vui, tích cực, thoải mái nơi nội tâm khi thực hành thiền là một kết quả cũng cần có sự nỗ lực lớn. Tuy nhiên, con cũng nhận thấy nó là một dạng hỷ lạc thôi. Vẫn cần đi qua cái đó để không chấp trước vào đó, để không còn cảm thấy vui, tích cực, thoải mái nữa mà là một trạng thái tâm Thấy biết rõ, quan sát rõ và hiểu rõ nhưng không có thái độ gì với điều đó, con đang nghĩ như thế là sự xuất ly, như thế mới không chấp thủ. Xin sư chỉ dạy thêm.

Trả lời:

Hỷ lạc do Chánh định khởi lên, do chú tâm liên tục cảm giác mà phát sinh thì không có chấp trước, không phải đánh đổi bằng khổ, không có sợ hãi mất nó nên không phải từ bỏ nó, không phải vượt qua nó. Hỷ lạc là một trong bảy yếu tố đưa đến giác ngộ (Hỷ giác chi).

Không thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế với Khổ và Ưu mà chỉ có thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế với Lạc và Hỷ. Khi chứng tứ thiền thì không có lạc hỷ, chỉ có tác dụng là để tuệ tri Khổ diệt rốt ráo hơn thôi. Nghĩa là Khổ diệt hay Niết bàn vắng mặt cả Khổ cả Vui (lạc hỷ).

Câu 7:  Người tu Bát Chánh Đạo có bị ham thích, ràng buộc bởi vị ngọt hỷ lạc của Chánh định không?

Trả lời:

Khi ở trong Định, phát sinh hỷ lạc thì lúc đó không có Tham Sân Si, nên làm gì có ràng buộc với vị ngọt đó. Khi lộ trình tâm là Bát Chánh Đạo thì hoàn toàn là chấm dứt Tham Sân Si, chấm dứt ràng buộc, nên khi trong Định là không có ràng buộc. Nhưng khi hết Định, không tu tập nữa thì lộ trình tâm Bát Tà Đạo khởi lên. Khi lộ trình tâm là Bát Tà Đạo, suy nghĩ về hỷ lạc của Chánh định thì thích thú nó, cái thích thú này phát sinh trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo, tham muốn nó – đã tham muốn thì ràng buộc với nó, nhưng cái ràng buộc này, tham muốn này sẽ đưa đến tu tập Bát Chánh Đạo.

Nếu tham muốn hỷ lạc của Chánh định là tốt rồi, nó chính là chi phần Dục như ý túc. Tuy rằng trong Phật giáo, tu là để đoạn trừ tham, nhưng trong thời kỳ tu thì chỉ chấp nhận một cái THAM DUY NHẤT là tham muốn tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO, tham muốn hỷ lạc của Chánh định. Phát triển cái tham đó để tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO. Còn khi tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO thì cái tham đó cũng không tồn tại, chấm dứt lúc đó.

Câu 8:  Hiểu đúng về Giới – Định – Tuệ

Thưa thầy con chưa hiểu rõ về Giới – Định – Tuệ. Con đang nghĩ rằng: một người giữ đúng Giới nghiêm thì tâm mới An trú, đỡ suy nghĩ phóng dật khi ngồi tọa thiền hoặc thiền hành dễ chú tâm vào các đề mục và khi tâm định tĩnh thì sẽ có những cái hiểu biết sâu sắc về cuộc sống. Xin thầy chỉ dẫn giúp con hiểu rõ hơn ạ.

Trả lời:

Trước tiên phải phân biệt được Giới và Luật.

Giới thuộc về Pháp mà Đức Phật đã giác ngộ và thuyết giảng, thuộc về một trong 3 nhóm của Bát Chánh Đạo gồm: Định (Chánh Niệm, Chánh Tinh Tấn, Chánh định); Tuệ (Chánh tư duy, Chánh tri kiến); Giới (Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng). Giới thuộc Pháp nên không bị chi phối bởi không gian thời gian, nghĩa là đúng cho mọi lúc, mọi nơi.

Luật là pháp được Phật chế định ra gồm các quy tắc phải tuân thủ nếu muốn là thành viên của đoàn thể đó, gồm 227 điều luật tỷ kheo, hơn 300 điều luật của Tỷ kheo ni, 5 hoặc 8 hoặc 10 điều luật của cư sĩ. Luật là pháp chế định nên nó đúng cho chỗ này mà không đúng cho chỗ kia, đúng cho thời gian này không đúng cho thời gian kia, cho hạng người này mà không phải hạng người kia. Luật đương nhiên có chế Tài, có trừng phạt. Khi gần nhập diệt Đức Phật cũng thấy có nhiều điều luật rất tủn mủn nên Ngài có dặn lại là Chư Tăng có thể bỏ bớt đi một số điều luật nhỏ nhặt.

Phải đọc kỹ Tạng Luật để thấy rõ mỗi một điều luật Đức Phật chế định do lý do gì và tác dụng các điều luật đó là để làm gì. Đọc kỹ để thấy các điều luật đó là để ngăn chặn các tệ nạn xảy ra trong Tăng đoàn thời đó, trừng phạt xua đuổi những kẻ lọt vào tăng đoàn để phá bĩnh không chịu học, không chịu tu tập và để cho thí chủ có lòng tin hộ độ tăng đoàn, để các tỷ kheo hiền thiện không bị phá rối. Vì vậy Luật mà Đức Phật chế định để ngăn chặn kẻ không tu tập, kẻ phá rối chứ không phải chế ra để chế tài các tỷ kheo hiền thiện, không phải để chế tài, áp dụng với người đang tu tập Bát Chánh Đạo. Vì vậy, không phải là giữ trọn đủ các điều luật Phật chế là đắc định như hiểu sai bây giờ. Mười mấy năm đầu của Tăng đoàn toàn là người trí, người hiền thiện Đức Phật không chế điều luật nào và thời kỳ này các đệ tử đắc định, đắc tuệ rất nhiều. Thời kỳ sau càng nhiều điều luật thì càng ít người đắc định, đắc tuệ, điều này đã được phản ánh trong kinh điển.

Giới là lời nói, hành động không do Tham Sân Si khởi lên, chỉ có khi tâm vị đó là Bát Chánh Đạo với Định, với Tuệ đầy đủ. Vì vậy Giới là sản phẩm của Định, Tuệ do Định Tuệ phát sinh ví như cái Gốc sinh ra Cành ngọn, chứ Giới không thể sinh ra Định Tuệ ví như cành ngọn không thể sinh ra gốc cây.

Lộ trình tâm là Bát Tà Đạo có Tham có Sân có Si, mà nếu như cũng có lời nói, hành động không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối… và nếu gọi đấy là Giới thì Giới đó là Giới Cấm Thủ, do Tham do Sân do Si mà có, không phải là Giới trên Bát Chánh Đạo, không phải là Giới trong Giới luật bậc thánh.

Muốn đạt định thì phải có Trí nhớ Chánh hay Chánh Niệm, nhớ đến tích cực chú tâm ghi nhận cảm giác toàn thân. Và để có Trí nhớ Chánh đó thì phải không có trí nhớ Tà hay Tà niệm, không nhớ đến chuyện thế gian. Muốn vậy phải có Văn tuệ và Tư tuệ do Nghe và Tư duy về Tứ Thánh Đế để phát sinh tham muốn tu tập Bát Chánh Đạo gọi là Dục như ý túc. Tham muốn tu tập Bát Chánh Đạo phải phát triển viên mãn như ý muốn thì sẽ tinh tấn tu tập BÁT CHÁNH ĐẠO, sẽ giảm thiểu được các tham muốn thế tục khác, sẽ giảm thiểu nhớ nghĩ đến chuyện khác. Lúc đó chỉ còn nhớ đến BÁT CHÁNH ĐẠO, nhớ đến tích cực chú tâm ghi nhận các cảm giác toàn thân thì sẽ vào định dễ dàng.

Để lại một bình luận