BÀI 22: HAI LOẠI THỰC TẠI PHÀM VÀ THÁNH
Câu 1: Có phải con người đang sống trong một thế giới được lập trình sẵn?
Thưa sư, trước đây con đã từng nghe một giả thuyết là chúng ta đang sống trong một thế giới được lập trình sẵn. Vậy trạng thái tồn tại của một vị giác ngộ trong thế giới lập trình đó là gì ạ?
Trả lời:
Nói “Thế giới được lập trình” là hoàn toàn không đúng sự thật. Quý vị thấy: cái người ta nói Thế giới đó thì quan niệm là Thế giới vật chất, mà Thế giới vật chất thì nó là duyên khởi: cứ hai nhân tương tác với nhau từng đôi một rồi diệt rồi sinh ra quả, rồi các quả đó lại tương tác, nó sinh diệt liên tục liên tục, chứ không có một lập trình nào cả.
Nhưng chúng ta nói: một con người là một lộ trình sinh diệt của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Quý vị học năm uẩn rồi: Căn – Trần tiếp xúc với nhau, đó là Sắc, thì phát sinh Thọ – Tưởng, rồi phát sinh Hành, Thức, là một lộ trình Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức sinh lên rồi diệt đi, sinh lên rồi diệt đi nối tiếp nhau. Dùng từ “lập trình” ở đây là để nói quy luật duyên khởi đó, nó diễn ra theo quy luật, theo thứ tự đó thì đó mới gọi là lập trình. Có hai lập trình:
- Bát Tà Đạo: Xúc (Căn – Trần, là Sắc) > Thọ – Tưởng > Tà niệm > Tà tư duy > Tà tri kiến > Tham Sân Si > Tà định > Dục > Tà tinh tấn > Phi như lý tác ý > Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng > Khổ Vui
Đây là sự vận hành của 5 nhóm (5 uẩn) Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức mà diễn đạt một cách tỉ mỉ là lộ trình tâm Bát Tà Đạo của phàm phu. Đây gọi là một lập trình, là một quy luật, nó xảy ra theo tuần tự. Bất kỳ ai, là một con người thì được diễn tả bằng lộ trình Bát Tà Đạo như vậy.
- Bát Chánh Đạo: Xúc (Căn – Trần) > Thọ – Tưởng > Chánh Niệm > Chánh Tinh Tấn > Chánh định > Chánh tư duy > Chánh tri kiến > Như lý tác ý > Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.
Lập trình này cũng có 5 nhóm Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức nhưng nó vận hành theo quy luật Bát Chánh Đạo.
Như vậy, dùng từ lập trình là để chỉ: con người là một lập trình. Có lập trình phàm và lập trình của Thánh. Nói lập trình ở đây là gồm cả con người và thế giới. Còn nói “thế giới là lập trình” thì chỉ nói riêng về 6 Trần, nhưng trong 6 Trần thì không có lập trình nào cả mà nó là duyên khởi, nó cứ tương tác với nhau từng đôi một cùng diệt rồi phát sinh một hay nhiều quả, rồi cứ thế từng đôi một tương tác sinh diệt sinh diệt liên tục.
Câu 2: Thực tại phàm hay thánh đều là Tâm chứ không phải là một cõi giới nào đó
Thưa sư, thế gian này là cõi dục – cõi theo cái thấy là chỉ toàn khổ (có vui nhưng vui đó chỉ là sợi chỉ mảnh treo ngược gió, thoáng chốc là đứt gãy). Nếu buông bỏ hết các sự khổ ấy, chắc chắn chúng ta không thể nào phù hợp với cõi dục này. Vậy có cõi giới nào phù hợp cho tư tưởng trên không?
Trả lời:
Quý vị đang có một quan niệm Tà kiến phổ biến trong nhân loại, đó là cho rằng thực tại này là “thế giới” và cho rằng đó là thế giới vật chất, rồi chia ra các cõi (cõi dục, v.v…).
Khi quý vị học và thực hành Chánh Niệm về Thọ, quý vị sẽ nhận ra rằng thực tại này, những đối tượng được thấy, được nghe, được cảm nhận là thế giới Cảm thọ chứ không phải thế giới vật chất. Nó là tâm chứ không phải vật chất. Tâm sinh lên rồi diệt, sinh diệt liên tục nối tiếp nhau, chứ không có một “cõi” nào cố định như quý vị hiểu.
Khi quý vị quan sát hai lộ trình tâm, lộ trình tâm Bát Tà Đạo (Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, rồi Tà niệm, Tà tư duy, Tà kiến, Tham Sân Si, Tà định…) chính là thực tại của phàm phu. Thực tại đó là tâm chứ không phải một cõi giới nào đó, không phải là “cõi dục”. Đó là thế giới cảm giác này, chứ không phải một “cõi dục” nào đó.
Thực tại của phàm phu là vui thì ít, khổ thì nhiều, não nhiều, mà nguy hiểm lại càng nhiều hơn. Thực tại đó là do sáu Căn tiếp xúc với sáu Trần mà phát sinh ra, chứ không phải một cõi giới nào đó. Rõ ràng, quý vị quan sát thực tại đó là do Căn – Trần tiếp xúc mà phát sinh. Nếu Căn – Trần không tiếp xúc thì không có thực tại đó. Cho nên, thực tại mà phàm phu sống là do Căn – Trần tiếp xúc. Thực tại đó là lộ trình tâm Bát Tà Đạo, được diễn tả bằng lộ trình tâm Bát Tà Đạo.
Còn khi quý vị thực hành Bát Chánh Đạo, quý vị sống trong một thực tại khác, thực tại Bát Chánh Đạo. Thực tại Bát Chánh Đạo cũng do Căn – Trần tiếp xúc mà phát sinh, cũng ngay bây giờ và tại đây. Thực tại này, nếu dùng theo từ Phật giáo, là Niết bàn. Thực tại này có Chánh kiến, có Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Thực tại này là Hết Khổ Được Vui liên tục, bền vững. Nhưng thực tại này cũng là thế giới cảm giác, nó cũng là tâm chứ không phải vật chất.
Cho nên, khi quý vị nói “nếu buông bỏ hết các sự khổ ấy, chắc chắn chúng ta không thể nào phù hợp với cõi dục này”, thì thực ra làm gì có cái cõi dục nào như quý vị hình dung. Quý vị chỉ cần đổi tâm từ Bát Tà Đạo sang Bát Chánh Đạo, thì thực tại đó sẽ thay đổi từ thực tại phàm phu sang thực tại bậc thánh, từ thực tại thế gian sang thực tại xuất thế gian.
Câu 3: Trạch pháp pháp tu quán thân bất tịnh
Ngày trước con có học về cách quán để giảm bớt tham ái con thực hành thì thấy cũng thấy hiệu quả (Ví dụ: Khi con nhìn thấy một cô gái, nếu thấy khởi lên Tâm dính mắc thì con Tác ý và quán thân thể cô gái cũng do đờm, dãi, phân, máu mủ được bọc ngoài bởi lớp da toàn thứ bất tịnh có gì đâu mà thích thú, tự nhiên tâm thấy nhàm chán và sự thích thú không còn nữa, hoặc thấy bộ xương di động thì cũng thấy nhàm chán.) Nhưng khi học bài sự giác ngộ của Đức Phật thế giới này là Cảm Thọ thì con thấy cách quán này dựa vào hiểu biết Tâm Thấy Cảnh phải không ạ? Do hiểu biết mình sai, mình dính mắc với cô gái vật chất nên phải quán để nhàm chán cô gái vật chất. Thực ra con đang dích mắc với cái cảm giác của mình chứ không phải cô gái vật chất kia phải không ạ?
Trả lời:
Quán thân bất tịnh là một pháp tu chính thống trong Phật giáo hiện nay cả Bắc tông và Nam tông. Nhưng gần như không ai phát hiện ra quán bất tịnh như vậy là Vô minh bắt nguồn từ cách tu Khổ hạnh, đày đoạ thân xác để nó kiệt quệ, dơ dáy, lở loét… của đạo Bà la môn trước thời Đức Phật cho đến cả hiện nay. Không những tín đồ ngoại đạo mà cả ngay từ thời Phật còn tại thế, tuy nhiều tỷ kheo đi theo Phật nhưng vẫn bị ám ảnh bởi khổ hạnh nên người đời sau kết tập kinh điển đã đưa tư tưởng khổ hạnh thịnh hành vào trong kinh điển Phật giáo, cho rằng nó là pháp tu do Phật chủ trương.
Do không hiểu biết đúng sự thật thực tại là Cảm Thọ, do bị Vô minh che đậy bởi Tâm Biết Cảnh vật, nên khi nghe: Thực tại thế gian có Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh và Thực tại Xuất thế gian có Vô thường, Khổ diệt, Vô ngã, Thanh tịnh thì hiểu phàm phu có thân bất tịnh còn bậc Thánh có thân thanh tịnh mà không thấy biết như thật: Bất tịnh ám chỉ Niềm vui, Hạnh phúc của phàm phu là phàm phu lạc, ô uế lạc, bất tịnh lạc; còn Thanh tịnh chỉ cho Niềm vui, hạnh phúc của bậc Thánh là Thánh lạc, Chánh giác lạc, an tịnh lạc.
Vì pháp tu quán thân bất tịnh là của Bà la môn giáo được kết tập vào kinh điển đạo Phật cho nên khi thực hành nó là khởi lên Bát Tà Đạo, là chuyển từ cực đoan Tham (thích) sang Sân (ghét), từ thấy nó là thân thể đẹp đẽ, thơm tho mà bây giờ thấy nó bất tịnh nhơ nhớp thì chán ghét. Khi ghét nó thì đương nhiên là không thích, không tham ái, xa lánh nó. Nhưng xa lánh nó là do Sân, một cực đoan khác của tham mà thôi.
Nếu thực hành quán thân bất tịnh đến mức thành tựu, tức là luôn luôn không gián đoạn THẤY thân thể mình và thân thể người khác nhơ nhớp, bẩn thỉu, hôi thối, ghê tởm… Một người mà thành tựu quán thân bất tịnh như vậy thì còn sống nổi trên đời này không? Chắc chắn họ sẽ tự sát, như là kinh điển đã mô tả mấy chục tỷ kheo sống với Phật và A nan trong một tịnh xá, thực hành quán thân bất tịnh đến nỗi hoang tưởng ghê tởm thân bất tịnh mà tự sát.
Nếu thấy biết như thật những đối tượng được thấy, nghe, cảm nhận của thực tại là Cảm Thọ, là Tâm chứ không phải Vật chất thì sẽ không có khái niệm đối tượng đó bất tịnh hay thanh tịnh để mà quán.
Nếu như thực hành quán Thọ mà nhãn thức thấy Cảm giác hình ảnh (cô gái đẹp) rồi ý thức Chánh tri kiến khởi lên BIẾT đối tượng đó là Thọ, là Cảm giác hình ảnh thì kinh nghiệm được ngay: không yêu thích, không chán ghét, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ luỵ, tuy vẫn liên tục nhìn thấy đối tượng. Còn khi thấy rồi phải quán thân thể đó là do thịt da đờm dãi… thì đâu còn thời gian để nhìn cô gái, để đối phó với tình huống khác. Và nếu có điều kiện quán thân bất tịnh thì nó chỉ phát sinh Sân (tuy rất nhẹ) để xa lánh đối tượng, không dám nhìn đối tượng.
Vì hiểu biết Vô minh, sai sự thật cho rằng đối tượng đó là thế giới Vật chất có thể nắm giữ, làm chủ, sở hữu mới phát sinh Tham Sân Si, nên nếu Hiểu biết đúng sự thật, rằng đối tượng đó là Cảm Thọ, là Tâm thì cũng thấy biết ngay liền nó vô thường, vô chủ sở hữu, không thể làm chủ sở hữu thì Tham Sân Si không thể khởi lên.
Đây là điều rất vi tế khó thấy, khó biết, là giác ngộ thực tại là Cảm Thọ, là Tâm, nó vô thường, vô chủ vô sở hữu. Tuy nó vô thường nhưng nó là THẬT CÓ chứ không phải là giả như là Chấp không đã nhồi sọ. Tuy nó có thể chỉ tồn tại trong một phần của một phần tỷ giây nhưng trong thời gian một phần của một phần tỷ giây đó nó có mặt, nó tồn tại, nó hiện hữu.
Câu 4: Khởi tâm phân biệt phàm và thánh thì có phải là Chấp ngã?
Thưa Sư, khi phân biệt Bậc Thánh với Phàm phu là có phải đã rơi vào tư tưởng bám chấp có một Cái Ta và Cái Ta Bậc Thánh là Hơn Cái Ta Phàm phu?
Trả lời:
Trí tuệ trong đó có Trạch pháp là một trong 7 yếu tố đưa đến Giác ngộ và người giác ngộ thì có 7 yếu tố này (Thất giác chi). Mà Trạch pháp là PHÂN BIỆT RẠCH RÒI HAI LOẠI HIỂU BIẾT MINH VÀ VÔ MINH. Vì vậy nếu có Trạch Pháp sẽ phân biệt được các ngôn từ, khái niệm Tôi, Ta, Thánh, Phàm… cũng có Hai Cách Hiểu các từ ngữ này. Một cách hiểu Vô minh, Tà kiến, không đúng sự thật về Tôi, Ta, Thánh Phàm… có nội dung Chấp Thường, Chấp ngã. Một cách hiểu Minh, Chánh kiến, đúng sự thật về Tôi, Ta, Thánh Phàm… có nội dung Vô thường, Vô ngã.
Ngôn từ Tôi, Ta, Thánh, Phàm và các ngôn từ khác là PHÁP CHẾ ĐỊNH người Vô minh và giác ngộ đều sử dụng giống nhau nhưng với 2 cách hiểu khác nhau (Vô minh và Minh).
Nếu học và hành đúng có được Trạch pháp về pháp gọi là Ngôn từ đó sẽ không còn thắc mắc như trên nữa.
THAY CHO LỜI KẾT
Tại sao Pháp học Sư giảng chỉ gói gọn trong 23 bài giảng? Kết thúc 9 ngày tu học, ngoài việc luyện tập theo Bát Chánh Đạo mà Sư đã thuyết giảng và hướng dẫn, chúng con nên đọc thêm quyển kinh nào, tài liệu nào ạ?
Trả lời:
Khi quý vị học về phần Pháp học, quý vị được hướng dẫn quan sát sự thật. Trong các bài học này không hề sử dụng nội dung một bản kinh, một lời dạy nào của Đức Phật. Cũng có thể quý vị nghe câu: Này các tỷ kheo, Như Lai nhờ tuệ tri sự sinh diệt của Thọ, Vị ngọt, sự Nguy hiểm và sự Xuất ly của Thọ mà Như Lai được giải thoát hoàn toàn không có chấp thủ, nhưng câu nói đó không có lời giải thích nào cả, không có kiến thức nào trong kinh để giải thích.
Trong phần Pháp học này, kể cả câu nói đó là quý vị được hướng dẫn quan sát sự thật để khám phá ra sự thật về Thực tại, về Lý duyên khởi, về Vô thường, về Vô chủ vô sở hữu, về Lộ trình tâm Bát Tà đạo, Lộ trình tâm Bát Chánh đạo, về Khổ – Tập – Diệt – Đạo.
Những nội dung mà quý vị học, hoàn toàn không sử dụng kinh điển để học, mà thuần túy là quý vị quan sát sự thật để có những hiểu biết đó, có những kết luận đó. Rồi tiếp theo là Pháp hành, quý vị thực hành theo lý thuyết (Pháp học) đó, chứ hoàn toàn không sử dụng một bản kinh nào về Pháp hành để hướng dẫn quý vị thực hành, cũng hoàn toàn độc lập với kinh điển.
Và như vậy, Pháp học và Pháp hành quý vị học, tiếp thu, quý vị được hướng dẫn hoàn toàn là độc lập với kinh điển, không liên quan đến nội dung kinh điển, không dùng kinh điển để giảng dạy. Và sau khi quý vị học và hành, quý vị có được kết quả, thì lúc đó tôi mới sử dụng các bản kinh, như là bản kinh Nhất dạ hiền giả, hay là bản kinh Kalaka, bản kinh Pháp môn Căn bản… Khi chúng tôi giảng những bản kinh đó, là để quý vị so sánh nội dung của các bản kinh đó với Pháp học, Pháp hành và Pháp thành mà quý vị đã khám phá một cách độc lập. Mục đích là để quý vị thấy: những gì mà quý vị tiếp thu Pháp học, Pháp hành và Pháp thành một cách độc lập với kinh điển nhưng nó không chống trái, mà tương hợp với những bản kinh cơ bản, với tinh thần của kinh điển.
Cho nên, quý vị học, hành chừng đó là quý vị có thể đạt giác ngộ, giải thoát.
Ngoài ra, chúng tôi cũng có những bài viết, video, và nhiều cuốn sách đã phát hành – khai thác sâu hơn về các khía cạnh khác để quý vị thẩm thấu sâu hơn. Sau khi quý vị đã thấm nhuần rồi, có tiêu chuẩn rõ ràng rồi, lúc đó quý vị có thể mở rộng ra đọc thêm bộ kinh Nikaya để có cảm hứng về tu tập, đặc biệt là Trung Bộ và Trường Bộ. Rồi từ cơ sở vững chắc của mình, quý vị có thể đọc các tư tưởng khác. Nhưng quý vị đọc với Chánh tư duy, quý vị phân biệt được đâu là thật, đâu là giả, quý vị phải “lọc được vàng ra khỏi quặng, ra khỏi đất đá”. Như vậy, quý vị có thể đọc thêm, nhưng chừng này cũng đủ để quý vị giác ngộ và giải thoát.
Rồi quý vị có thể nghe video bài Pháp Hỏi Đáp về Núi và Sông, thì quý vị cũng mở rộng ra một chút, để quý vị có thể hiểu được các tông phái khác, họ có những giáo nghĩa, học thuyết nào. Quý vị hiểu một cách cơ bản, để làm gì? Để khi tình cờ hay khi quý vị phải tiếp xúc với những người tu với các tông phái với các nội dung khác, thì quý vị phải hiểu về nó để quý vị có thể trao đổi. Khi buộc lòng quý vị phải nói, phải trao đổi thì quý vị không áp đặt họ.
Nếu như quý vị chỉ biết một mình kiến thức này, quý vị tu, thì cũng rất là tốt rồi, không sao cả, quý vị có thể là từ chối họ, lĩnh vực này là tôi không tranh luận. Nhưng nếu cần thiết, hoặc nếu quý vị muốn giúp cho họ thì quý vị có thể có những kiến thức mà tôi cung cấp thêm, để quý vị có thể trao đổi với họ. Trao đổi, nhưng mà dựa trên những hiểu biết của họ, dựa trên những quan điểm của họ, vạch ra những điểm mâu thuẫn, không hợp lý trong đó, chứ quý vị không áp đặt họ là phải nghe nội dung tôi nói đây, cái của tôi đây mới là chính xác. Quý vị không dùng tư tưởng áp đặt đó, không dùng cái của mình để áp đặt người ta, bắt người ta phải tin, mà quý vị sử dụng hiểu biết đúng sự thật của mình để quý vị có thể phân tích quan điểm, học thuyết của họ mâu thuẫn ở chỗ nào…
Quý vị có thể tham khảo thêm như vậy.
Thiền sư Nguyên Tuệ

