BÀI 2: MỤC ĐÍCH CUỘC SỐNG
Câu 1: Tại sao có những câu hỏi Sư không trả lời?
Trả lời:
Quý vị thấy mục đích của cuộc đời là chấm dứt khổ. Vậy nên, những câu hỏi nào liên quan đến khổ và cách thức chấm dứt khổ thì quý vị cần phải hỏi, cần phải tìm hiểu và giải đáp. Còn những vấn đề, những câu hỏi hay những suy nghĩ nào vô bổ, vô ích, không đưa đến hiểu biết đúng sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ, thì những suy nghĩ đó cần phải loại bỏ.
Một số các câu hỏi mà quý vị thắc mắc chẳng đưa đến mục đích ấy. Mục đích của cuộc đời là chấm dứt khổ, cho nên câu hỏi nào đưa đến mục đích thì nên hỏi. Còn câu hỏi nào không đưa đến mục đích thì chúng ta cần phải từ từ loại bỏ và chấm dứt nó.
Câu 2: Làm sao để sống một cuộc đời có ý nghĩa?
Trả lời:
Ý nghĩa của cuộc đời là làm thế nào để sống nhằm chấm dứt khổ – hướng đến và đạt được mục đích đó. Khi quý vị thấy mục đích của cuộc đời là chấm dứt khổ, vậy thì để sống một cuộc đời có ý nghĩa, không lãng phí, không vô ích, đó chính là cuộc đời mà quý vị toàn tâm toàn ý thực hành con đường chấm dứt khổ. Còn nếu lãng phí cuộc đời vào những việc khác thì đó chỉ là một cuộc đời lãng phí, vô ích.
Bởi vì mục đích của cuộc đời là chấm dứt khổ mà anh lại không làm việc đó, như vậy cuộc đời đó là vô nghĩa. Ngược lại, nếu anh biết rằng mục đích của cuộc đời là chấm dứt khổ – một cái đích duy nhất – và anh NHẤT HƯỚNG sống theo để trong đời đạt đến đích chấm dứt khổ, thì sống cuộc đời như vậy là cuộc đời có ý nghĩa.
Câu 3: Nhân loại có phát triển đến đâu thì cũng chỉ đổi khổ này lấy khổ khác
Thưa thầy, tham muốn là động lực giúp con người ta phấn đấu để đạt được các mục tiêu của mình, xã hội cũng vì thế mà phát triển, khoa học gặt hái được nhiều thành tựu to lớn… Nếu con người ta trừ bỏ những cái tham như vậy thì có đi ngược lại với cái đà phát triển của nhân loại hay không, hay là chúng ta chỉ an lạc bình thường và không có những thành tựu gì mới?
Trả lời:
Rất nhiều người đặt ra vấn đề này. Khi học Pháp này thì có vẻ như là chúng ta phủ nhận các thành tựu của khoa học, của cuộc sống. Thế giới này ai cũng thích thú sự tăng trưởng, sự tiến triển, sự hiện đại, các phương tiện mà khoa học kỹ thuật mang đến cho cuộc sống này. Nhưng như tôi đã giới thiệu với quý vị ngay từ đầu, tất cả mục đích của khoa học hay tôn giáo hay con người cũng hướng đến sự chấm dứt khổ mà thôi.
Con đường của khoa học cải tạo thế giới này, thay đổi hoàn cảnh sống của thế giới này, tuy rằng nó đưa đến một số tiện nghi, một số lợi ích, một số vị ngọt cho cuộc đời, nhưng nó chỉ đổi cái khổ này lấy cái khổ khác mà thôi, chứ nó không chấm dứt được khổ; hay nói cách khác đó là liều thuốc giảm đau thôi chứ không phải là liều thuốc chữa lành bệnh khổ.
Quý vị thấy 2.600 năm trước khi Đức Phật Thích Ca ra đời ở Ấn Độ thì thế giới này tối tăm, nghèo nàn, lạc hậu, kém hiểu biết. Lúc đó, loài người cũng phải chịu đựng cái khổ. Nhưng mà bây giờ 2.600 năm rồi, con người và khoa học đã đạt được những thành tựu rất ghê gớm, những gì mà con người muốn gần như là khoa học đều làm được: bay lên trời cao, lặn xuống biển sâu, khám phá địa đại, đi mây về gió; có thiên nhãn, thiên nhĩ: ngồi đây mà vẫn quan sát được bên nước Mỹ, ngồi đây mà vẫn nghe, nói chuyện và tâm sự với người bên Mỹ; thậm chí là chế ra được rô-bốt vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn cảm nhận, vẫn nhận thức, vẫn có lời nói hành động, cảm xúc giống y như con người…
Cho dù hiện đại như vậy, tràn ngập ánh sáng như vậy, sang trọng như vậy, muốn gì được nấy như vậy, nhưng mà cho dù như thế, loài người đã hết khổ chưa? Khẳng định là chưa, mà chỉ đổi cái khổ này lấy khổ khác thôi.
Ngay như là đời sống quý vị cách đây ba, bốn chục năm, lúc đó rất nhiều gia đình, tất cả mọi người chỉ mơ ước có đủ gạo ăn thôi, không phải ăn độn, mỗi tháng có được nửa ký thịt, 5 lạng đường thôi; rồi có cái xe đạp mà đi – đó là mơ ước cao sang nhất của con người lúc đó, phải vậy không quý vị? Lúc đó con người gần như không có ai mơ ước cái xe máy mà chỉ mơ ước cái xe đạp thôi. Lúc đó con người có khổ không? Khổ. Nhưng mà bây giờ có những người có cả tỷ đô la, nhiều hơn cả tỷ đô la nữa, họ có đầy đủ mọi thứ: nhà cửa, xe cộ, máy móc, muốn gì được nấy, nhưng mà những người đó đã hết khổ chưa? Trên thế giới này không có ai hết khổ cả. Có phải là khoa học kỹ thuật chỉ thay đổi cái khổ này lấy khổ khác thôi?
Và quý vị không biết rằng những người giàu có họ khổ, họ căng thẳng như thế nào. Bởi vì khổ thuộc về nội tâm chứ không phải là khổ thuộc về ngoại cảnh. Quý vị mường tượng: bây giờ quý vị có một cái quán ăn thuê hai người phục vụ. Rõ ràng nếu quý vị một mình, quý vị không có phiền não nhưng mà khi quý vị có hai nhân viên thì quý vị có thêm hai cái phiền não. Bây giờ quý vị phát triển lên 100 nhân viên, tuy rằng là quý vị giàu lên 100 lần, nhiều tiền của 100 lần nhưng mà có 100 nhân viên thì có thêm 100 phiền não. Quý vị có công nhận sự thật này không? Rồi khi quý vị có một vạn nhân viên thì sẽ có thêm nhiều phiền não nữa. Người nghèo rất khó mà biết được sự thật bởi vì họ ảo tưởng khi nào giàu là mình hết khổ. Còn người giàu thật sự, có một triệu đô la hay có một tỷ đô la họ mới biết sự thật lúc đó là như thế nào.
Vì vậy, khoa học kỹ thuật cho dù tiến bộ đến đâu thì cũng chỉ đổi cái khổ này lấy khổ khác mà thôi, chứ không bao giờ chấm dứt được khổ. Đóng góp của khoa học kỹ thuật chỉ làm cho con người ta ngày càng tham đắm, quay cuồng, ngày càng căng thẳng, bị cuốn trôi vào những cái sản phẩm tiện nghi. Cách đây khoảng ba, bốn chục năm, lúc đó nhàn lắm, hay đi chơi, bạn bè nói chuyện lung tung, nhưng bây giờ nhiều người rất bận, suốt ngày không có thời gian để mà chuyện trò, giao tiếp, nó khổ hơn nhiều, căng thẳng hơn nhiều.
Quý vị quan sát thấy, đối với những đất nước nghèo, đối với những người nghèo họ làm lụng có thể rất vất vả, khó nhọc nhưng mà rất ít người tự tử. Còn đất nước càng giàu thì số người tự tử lại càng nhiều, điều này chứng tỏ là cái đau khổ nó lớn hơn. Và quý vị có thấy rằng nước Việt Nam nghèo như vậy nhưng 60 tuổi được về hưu, còn nước Nhật giàu có như vậy nhưng 65 tuổi mới được về hưu, và bây giờ người ta còn muốn nâng lên 70 tuổi mới về hưu. Quý vị có thấy càng giàu có càng căng thẳng, càng khổ phải không?
Như vậy, cho dù thế giới có phát triển lên như thế nào thì nó chỉ đổi cái khổ này lấy khổ khác mà thôi. Và chúng ta thấy rõ mục đích của tất cả nhân loại này, cho dù là cá nhân, tập thể, cho dù là một đất nước hay cả loài người, cho dù là tôn giáo, là khoa học hay là người bình dân, mục đích làm việc gì cũng hướng đến mục đích là chấm dứt khổ. Nhưng mà khoa học có chấm dứt được khổ không? Nó không chấm dứt được khổ, nó chỉ đổi cái khổ này lấy khổ khác thôi.
Con đường đi của Phật giáo là đường đi khác, thay đổi tâm chứ không phải thay đổi cảnh. Khoa học không chấm dứt được khổ là bởi khoa học hiểu lầm, khoa học thay đổi cảnh chứ không phải thay đổi tâm, nên không đưa đến hết khổ mà chỉ có con đường này, con đường thay đổi tâm mới chấm dứt khổ. Đương nhiên là quý vị sẽ thấy, câu hỏi này là đa phần của nhân loại, còn những người học rồi chấp nhận thay đổi tâm mà không cần thay đổi cảnh, đạt được mục đích chấm dứt khổ thì tôi cũng khẳng định với quý vị là một con số rất ít ỏi. Cho nên nói rằng Pháp của Đức Thế Tôn thuyết giảng có tính chất thứ năm là dành cho người trí tự mình giác ngộ. Điều này trái ngược với mọi hiểu biết của nhân loại, trái ngược với khoa học.
Nhưng quý vị thấy rằng trung đạo là xa lìa hai cực đoan. Cực đoan khổ hạnh không chấm dứt được khổ, và tham ái hạnh phúc vật chất cũng không chấm dứt được khổ. Trung đạo có nghĩa là vẫn sống với mọi hoàn cảnh, Lạc thọ cũng sống được, Khổ thọ cũng sống được, Bất khổ bất lạc thọ cũng sống được, nhưng không có Tham Sân Si, không có tham ái đối với Lạc thọ.
Quý vị có nhà cao cửa rộng, có ô tô, có tiền, quý vị vẫn cứ sử dụng nó nhưng mà quý vị đừng có ràng buộc, đừng có tham ái, không phải là quý vị phải từ bỏ nó để khổ hạnh. Quý vị học lối sống thích nghi với mọi hoàn cảnh, có vị ngọt quý vị vẫn sử dụng nhưng không ràng buộc với nó và khi không ràng buộc, nó mất đi quý vị cũng không đau khổ. Người tham ái vị ngọt là ràng buộc với nó, nắm giữ nó cho nên khi mất nó đi là đau khổ; còn bây giờ chúng ta học cách sống, cũng có thể sống với vị ngọt nếu như có vị ngọt, bởi vì bản thân vị ngọt là cảm giác, nó vô chủ vô sở hữu, không ai lẩn tránh nó được. Kẻ phàm phu tham đắm, nắm giữ nó, còn chúng ta học cách để chúng ta vẫn sống với nó, sống với vị ngọt nhưng mà không có tham ái, nên khi nó mất đi thì không có khổ. Khi có cái Khổ thọ thì chúng ta vẫn thích nghi, không có Sân với Khổ thọ, không tham với Lạc thọ, không Si nên không đi tìm cái Lạc thọ để thay thế trung tính.
Đó là lối sống trung đạo. Hoa sen sống trong bùn, sinh ra trong bùn, lớn lên trong bùn nhưng khi thoát ra khỏi mặt nước nở hoa thì không ô nhiễm mùi bùn. Cũng y như vậy, người trí sống với trung đạo, sống trong vị ngọt cuộc đời nhưng không bị vị ngọt cuộc đời làm cho ô nhiễm.
Không phải là chúng ta phản đối, hủy bỏ khoa học, mà chúng ta không tham ái nó. Quý vị phải hiểu thái độ đó. Khổ hạnh là hành hạ thân xác này, ăn vỏ cây, ăn cây cỏ, ngủ nằm đất, rồi từ bỏ cái thế giới hiện đại tân tiến này để vào sống trong rừng, chịu khổ hạnh. Cái đó không phải là Phật giáo.
Câu 4: Làm sao để bớt khổ trong vòng lặp cơm áo gạo tiền?
Con của con vẫn đang cố gắng học để sau này có công việc nuôi thân, vẫn lấy vợ sinh con, vẫn phải lo cho con cái. Vậy thưa sư, làm thế nào để bớt khổ khi vẫn sống như vòng lặp trên?
Trả lời:
Quý vị phải hiểu rằng, bây giờ cho dù quý vị làm gì đi nữa thì cũng đều hướng đến mục đích là để chấm dứt khổ, để Hết Khổ Được Vui. Cái vui này không phải là vui do thích thú sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái, mà cái vui này do chú tâm liên tục cảm giác toàn thân khởi lên – cái vui của Chánh định.
Cho dù làm gì thì quý vị cũng hướng đến mục đích là Hết Khổ Được Vui. Nhưng mà với lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì quý vị chẳng bao giờ Hết Khổ Được Vui liên tục bền vững. Cái hết khổ đó chỉ là tạm bợ, và cái vui đó lại đưa đến đổi cái khổ khác.
Còn đến đây, quý vị thực hành một phương pháp đổi tâm không đổi cảnh. Trước kia quý vị sống là quý vị cho rằng Khổ Vui ở nơi ngoại cảnh, cho nên muốn Hết Khổ Được Vui là thay đổi hoàn cảnh. Còn bây giờ quý vị biết rằng Khổ Vui nơi tâm, phát sinh nơi tâm thì phải giải quyết nơi tâm. Vì vậy quý vị đến đây học để Hết Khổ Được Vui liên tục bền vững, nhưng chỉ cần đổi tâm chứ không phải là đổi cảnh.
Cho nên là quý vị vẫn sống với hoàn cảnh cũ, công việc cũ, gia đình cũ, vẫn là vợ con, tiền bạc… như vậy. Cái cảnh đó chưa cần phải đổi mà quý vị chỉ cần đổi tâm, từ lộ trình tâm Bát Tà Đạo sang lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, thì quý vị sẽ kinh nghiệm Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây, và có thể phát triển cái Hết Khổ Được Vui đó liên tục và bền vững.
Cho nên quý vị thấy, con quý vị vẫn cứ như vậy thôi. Nhưng nếu như nó bắt đầu học rồi hành cái Pháp này thì nó vẫn làm được những việc đó, nhưng mà nó sẽ làm với tâm trạng Hết Khổ Được Vui liên tục bền vững. Quý vị không cần phải lo ngại cái Pháp này là phải xuất gia, phải vào chùa sống, không phải như vậy. Pháp này dành cho tất cả mọi người – những người có trí, những người có khả năng học, hiểu rồi thực hành được pháp này – không cứ là tại gia hay xuất gia thì đều có thể thành tựu, với các mức độ khác nhau thôi.
Câu 5: Sư có giảng cuộc đời có khổ có vui, khổ nhiều hơn vui. Vậy thì khổ nhiều hơn vui là đối với tất cả mọi người hay còn tuỳ vào hoàn cảnh mỗi người mỗi khác?
Trả lời:
Ai cũng có thể thấy SỰ THẬT cuộc đời có cả khổ và vui, không phải như một số tông phái cho rằng cuộc đời chỉ toàn là khổ, tất cả chỉ là khổ, năm uẩn là khổ, đời là bể khổ, không có nơi chốn nào không có khổ. Họ lại gắn cho Phật nói vậy nên nhiều người phê phán Phật nhìn đời quá bi quan.
Tuy ai cũng có thể thấy cuộc đời có cả khổ lẫn vui nhưng hiểu biết về Khổ và Vui thì đa phần hiểu biết sai lạc, hiểu biết không đúng sự thật Khổ và Vui, đặc biệt là Vui. Họ cho rằng Vui (Hạnh phúc) sẵn có, luôn luôn có, thường hằng thường trú trong thế giới vật chất ngoại cảnh, trong sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái. Hạnh phúc thuộc về thế giới vật chất cho nên có thể nắm giữ, sở hữu, làm chủ được nó và khi đã làm chủ, nắm giữ, sở hữu được hạnh phúc thì khổ sẽ chấm dứt hoàn toàn. Chính vì hiểu biết về Vui như vậy mà tham ái, tham đắm, nắm giữ, ràng buộc với Hạnh phúc. Vì vậy mà suốt đời từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, trong từng giây phút đều khao khát, mong mỏi, tìm cầu Niềm vui, Hạnh phúc trong thế giới vật chất không ngừng nghỉ.
Và sự thật cái Vui, cái Hạnh phúc ấy muốn có được thì phải lao tâm khổ trí, phải phấn đấu nỗ lực suốt ngày đêm, phải chịu đựng bao gian khổ, cay đắng, uất ức, cạnh tranh, đấu tranh, tranh cướp, thậm chí là tàn sát lẫn nhau mới có được. Cho nên bản chất của Vui đó là Vui ít khổ nhiều, nghĩa là so sánh cái khổ phải chịu đựng để có vui đó thì khi cân lên Khổ sẽ nhiều hơn Vui.
Vì để có được Vui đó mà phải âm mưu tính toán trăm phương ngàn kế với các ác, bất thiện để chiếm đoạt, để hãm hại lẫn nhau, tàn sát nhau bằng chiến tranh, từ vũ khí thô sơ đến hiện đại… Kết quả là đau khổ, sầu não, chết chóc, tù đày và muôn vàn cực hình chờ đợi. Đấy là Vui ít khổ nhiều mà NGUY HIỂM lại càng nhiều hơn.
Vì cái Vui này đưa đến nắm giữ, ràng buộc, nghĩa là có được Vui thì muốn nó tồn tại và của mình mãi mãi, nhưng nó chỉ là một Cảm giác dễ chịu, là một Lạc Thọ sinh lên rồi diệt đi liền, nên khi mất nó Khổ não sẽ khởi lên. Vì vậy Vui này gọi là Dục lạc, đưa đến ràng buộc, đưa đến Khổ.
Đa phần nhân loại hiểu biết sai lạc về Vui, Hạnh phúc, cho nó là kỳ diệu, màu nhiệm, có thể nắm giữ, sở hữu được nó vĩnh viễn, nhờ có nó mà sẽ chấm dứt Khổ vĩnh viễn cho mình mà không hiểu biết đúng sự thật, Vui này bản chất là: Vui ít Khổ nhiều, não nhiều mà nguy hiểm càng nhiều hơn. Hãy nghe kỹ trong bài: Mục đích cuộc sống.
Câu 6: Điển tích về các thần thông của Đức Phật có thật không?
Trả lời:
Giáo Pháp của Đức Phật ở đây là Tứ Thánh Đế thôi. Giáo lý này nói về sự thật khổ và nguyên nhân khổ, trong đó cả khổ thân và khổ tâm, mà chủ yếu là khổ tâm là do Tham Sân Si. Và chấm dứt Tham Sân Si bằng Bát Chánh Đạo thì chấm dứt khổ. Giáo lý này nói tóm gọn là nói đến khổ và chấm dứt khổ.
Còn những thần thông, năng lực… như trong kinh điển nói thì nó chẳng liên quan gì đến giáo lý này. Dù anh có đạt đến thần thông này, thần thông khác, thì thần thông đó không có liên hệ gì đến chấm dứt khổ cả.
Đó là các tà kiến từ trước đến nay thôi, tất cả là vì không có hiểu biết đúng sự thật về thế giới hóa sanh.
Câu 7: Quan niệm về Sứ mệnh trong Phật giáo là gì? Người giác ngộ có sứ mệnh không?
Trả lời:
Nếu quan sát một cách thô, quý vị sẽ thấy rằng hiểu biết về sứ mệnh của con người là dựa trên tư tưởng Chấp ngã. Đó là suy nghĩ rằng sứ mệnh của mình là phải cải tạo thế giới, thay đổi con người, làm cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc, hay làm cho tất cả chúng sinh thành Phật rồi mình mới thành Phật, v.v… những tư tưởng này hướng đến việc thay đổi, điều khiển thế giới và con người từ xấu thành tốt, phát nguyện độ hết mọi người thành Phật.
Những tư tưởng này đã xen vào Phật giáo, nhưng chúng thuộc về đạo Phật tôn giáo của những người sau, chứ Đức Phật không giảng dạy những điều đó. Một bậc đã giác ngộ vô ngã hiểu rằng tất cả đều vô chủ, vô sở hữu, tất cả chỉ là sự tương tác. Do đó, đối với những người giác ngộ, không bao giờ có ý nghĩ rằng mình phải thay đổi mọi người, hay điều mình chứng ngộ là cao siêu và phải truyền lại cho người khác.
Người giác ngộ biết rằng những điều mình nói ra có thể có người tiếp thu, cũng có thể không, nhưng giả sử không ai trên thế gian này tiếp thu được cũng chẳng sao cả. Họ không bị ràng buộc vào kết quả phải truyền lại điều này cho đời sau, bởi vì không còn chấp thủ rằng những thành quả đó là của Ta, là Ta.
Người giác ngộ hiểu rõ Lý duyên khởi: hai nhân tương tác với nhau sẽ xảy ra hai kết quả theo chiều ngược nhau – một là kết quả tốt, hai là kết quả xấu – tùy thuộc vào “kho chứa” hay lượng thông tin trong bộ nhớ này, lượng thông tin của vị đó tương tác với người kia. Khi đã biết rõ như vậy thì đâu còn là khi kết quả tốt thì vui mừng, kết quả xấu thì buồn nữa. Khi đã biết rõ như vậy thì kết quả như thế nào vị đó cũng bình thản, không còn thích hay ghét (kết quả tốt cũng không vui mừng mà kết quả xấu cũng không chán ghét). Việc truyền bá được hay không truyền bá được không còn là vấn đề nữa, không còn khởi lên tư tưởng sứ mệnh.
Quý vị thấy rằng rất nhiều người hiện nay cũng xưng thế này thế kia, nhưng đều thể hiện “sứ mệnh”, đó là biểu hiện của Chấp ngã. Còn người giác ngộ thì không có sứ mệnh nào hết.
Một người khi đã giác ngộ là đã đi đến đích. Họ cảm nhận và biết rõ rằng khổ đã được đoạn tận, khổ đã được chấm dứt. Khi đã biết rõ và đúng sự thật rằng khổ đã chấm dứt, vị đó không quan tâm đến bất kỳ chuyện gì trên đời, cho dù thế giới này là vuông hay tròn, dài hay ngắn, mặn hay ngọt, chua hay cay… Vị đó không quan tâm đến thế giới, vì hết khổ rồi thì còn cần gì nữa đâu. Vì khổ nên mới cần những cái giúp cho mình hết khổ, còn hết khổ rồi, hết khổ thuộc nội tâm thì không cần bất kỳ cái gì cả. Cho nên thế giới như thế nào thì không cần biết.
Đức Phật cũng không phải là giác ngộ về thế giới. Ai đã giác ngộ đều hiểu rằng giờ phút giác ngộ đó biết rõ ràng là khổ đã đoạn diệt, chấm dứt hoàn toàn rồi, không có một trách nhiệm, không có một ràng buộc, không có bất kỳ một cái gì ở trên đời nữa và lúc đó thế giới như thế nào thì mặc nó thôi, không cần phải biết.
Bây giờ mình đã đạt đến đích này rồi thì vị đó vẫn có ý muốn chia sẻ với người khác, điều này rất tự nhiên. Giống như bây giờ cả một vùng hạn hán khô cạn mấy tháng liền, nước uống cạn kiệt hết, các dòng sông dòng suối cạn hết rồi, người ta đói khát. Nhưng may mắn cho vị đó, vào trong rừng núi rồi tìm ra một nguồn nước vô tận, uống no nê, khỏe mạnh rồi thì đương nhiên vị đó sẽ về làng đó nói mọi người là vào trong đó mà uống đi, nó vô tận, hết khát ngay.
Cũng y như vậy, người giác ngộ khi đã đạt đến sự chấm dứt khổ thì cũng có ý muốn chia sẻ. Đương nhiên là có những người không có khả năng để chia sẻ những điều này, đó là những vị độc giác, còn những vị nào có khả năng chia sẻ thì họ đều muốn chia sẻ. Nhưng họ đã giác ngộ, biết rằng vô chủ, vô sở hữu cho nên không còn áp đặt, không còn thuyết phục. Ai có duyên thì chia sẻ, người ta nghe cũng bình thản, người ta chê bai phản bác cũng bình thản, không có ràng buộc vào kết quả nữa.
Vì vậy, quý vị thấy rằng chữ sứ mệnh đó vẫn thuộc Vô minh thôi.
Thiền sư Nguyên Tuệ

