Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 3 – SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT

Hỏi đáp Pháp học TỨ THÁNH ĐẾ Bài 3 Thực tại là Cảm giác

BÀI 3: SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT

Câu 1:  Giác ngộ là gì? Hiểu đúng về giác ngộ là thế nào?

Trả lời:

Giác ngộ là hiểu biết đúng sự thật về các sự vật hiện tượng, về tâm, về vật (hay về danh và sắc). Nói đơn giản nhất, là hiểu biết đúng sự thật về Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Quý vị hỏi giác ngộ về cái gì? Giác ngộ tức là hiểu biết đúng sự thật về tất cả mọi sự vật hiện tượng, hay hiểu biết đúng sự thật về Tứ Thánh Đế. Nhưng nói gọn nhất, đơn giản nhất, là giác ngộ về Cảm thọ, hay giác ngộ thực tại này là Cảm thọ. Như trong bài học quý vị đã học ở đây, sự giác ngộ của Đức Phật, là Ngài tuyên bố: “Này các Tỳ Kheo, Như Lai nhờ tuệ tri sự sinh diệt của Thọ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của Thọ mà Như Lai được giải thoát hoàn toàn không có chấp thủ.”

Câu 2:  Phật học phải bắt đầu từ tuệ tri Sáu Xúc Xứ

Sự hiểu biết Lý duyên khởi có liên quan gì đến hiểu biết Thực tại là Cảm Thọ không? Và có phải hiểu Lý duyên khởi trước khi hiểu Thực tại là cảm giác không?

Trả lời:

Theo chương trình học khóa 9 ngày, trong bài giảng thứ 3 của buổi chiều ngày thứ nhất nói về sự giác ngộ của Đức Phật, quý vị đã được học và hiểu rằng 6 Căn tiếp xúc với 6 Trần phát sinh 6 Thọ và 6 Tưởng, gọi là tuệ tri Sáu Xúc Xứ. Đến ngày học thứ 4 quý vị mới học Lý duyên khởi. Thực ra vào ngày thứ nhất quý vị đã quan sát quy luật về Lý duyên khởi rồi.

Sáu xúc xứ hoạt động theo đúng nguyên tắc là hai nhân tương tác với nhau rồi cùng diệt mới phát sinh một hay nhiều quả. Căn – Trần tiếp xúc thì cả hai cùng diệt phát sinh ra Căn – Trần mới và đồng thời phát sinh ra Thọ – Tưởng. Tức là Căn – Trần tiếp xúc rồi cùng diệt, phát sinh ra bốn quả là Căn mới, Trần mới, Thọ và Tưởng. Các quả này đều vô thường, vô chủ, vô sở hữu.

Như vậy, từ lúc đầu khi quý vị quan sát tương tác giữa 6 Căn và 6 Trần để phát sinh ra thực tại là Cảm thọ, là tâm chứ không phải là vật, thì lúc đó quý vị đã khảo sát Lý duyên khởi. Đúng sự thật với Lý duyên khởi thì mới quan sát được sự thật này. Đó là một trường hợp quan trọng thôi, còn sau khi học bài Lý duyên khởi thì quý vị sẽ kết luận là tất cả mọi sự vật hiện tượng đều phát sinh do duyên khởi và đều vô thường, vô ngã.

Phật học phải bắt đầu từ quan sát sự tương tác của 6 Căn và 6 Trần, gọi là Tuệ Tri Sáu Xúc Xứ. Nơi nào không bắt đầu việc học Phật học bằng quan sát tương tác giữa 6 căn và 6 trần thì đó là chưa hiểu về Phật Pháp.

Câu 3:  Thế giới vật chất có tồn tại không?

Thực tại này là cảm giác chứ không phải là thế giới vật chất. Vậy thế giới vật chất có tồn tại không?

Trả lời:

Thực tại này là những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, là do 6 Căn và 6 Trần tiếp xúc mà phát sinh. 6 Căn là đại diện cho thân thể này, là thế giới vật chất, 6 Trần cũng là thế giới vật chất, tuy rằng pháp trần là thông tin, nhưng nó được chứa trong vật chất.

Quý vị quan sát lộ trình: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, Thọ là đối tượng được thấy và Tưởng là cái Thấy. Đối tượng được thấy đó là cảm giác, nhưng để có cảm giác đó thì phải có Căn có Trần. Biết có Căn, có Trần là do tư duy suy luận, dựa trên đối tượng được thấy, dựa trên quy luật duyên khởi. Như vậy, phải kết luận là rõ ràng CÓ thế giới vật chất, nhưng cái Thấy không thấy được thế giới vật chất, mà chỉ có cái Biết, do suy luận dựa vào đối tượng được thấy, thì kết luận là có thế giới vật chất.

Trong phần quán Tâm, quý vị học: cái Biết ý thức biết về Căn – Trần, biết về thế giới vật chất là do suy luận; còn cái Thấy chỉ thấy 6 cảm giác thôi, cái Thấy không thể nào thấy thế giới vật chất. Cái Biết ý thức biết là có thế giới vật chất, nhưng cái Biết đó là do tư duy, suy luận, chứ không phải thấy được thế giới vật chất.

Câu 4:  Tâm thức biến hiện ra vạn vật có đúng không? Có phải Vạn Pháp Duy Tâm Tạo không?

Trả lời:

Đây là một Tà kiến của một tông phái Phật giáo chứ không phải sự thật. Nhân loại thì mặc định rằng những gì được thấy, nghe, cảm nhận là Thế giới vật chất. Có 2 quan điểm về Thế giới vật chất đó: Duy vật và Duy tâm, nhưng cho dù là Duy vật hay Duy tâm thì đều cho rằng thực tại này là Thế giới vật chất.

Có một quan điểm lan tràn trong Phật giáo: Tất cả sự vật hiện tượng đều giả, không có thật. Và trong đó có một luận điểm cho rằng: nó là do Thức biến hiện ra, nên nó là giả. Nhưng cho dù các tông phái có nhồi sọ con người bao nhiêu, cho rằng thực tại này là giả, không thật thì người ta vẫn cho rằng thực tại là thật, vì đã thấm nhuần quan điểm Duy vật cho rằng thế giới này là thật. Kể cả duy tâm cũng cho rằng thế giới này là vật chất, là có thật. Nếu thức ăn là giả, thì người ta đâu có ăn? Nhưng người ta vẫn ăn. Nên cho dù có nhồi sọ thế nào thì khi đói bụng, tiếp xúc với thức ăn thì vẫn cứ ăn vào… Quý vị thấy: giả thật nó đánh nhau loạn xị như vậy.

Thực tại, những gì được thấy, nghe, cảm nhận là thật chứ không phải là giả. Nhưng sự thật thì nó là cảm giác, là tâm chứ không phải thế giới vật chất, đây là điều mà Đức Phật đã giác ngộ và nó đúng với sự thật đang xảy ra. Thực tại đó không phải là do Thức biến hiện ra, mà do Căn – Trần tiếp xúc phát sinh.

Như trong Thập Nhị Nhân Duyên, Đức Phật đã thuyết: do Lục nhập, tức 6 Căn tiếp xúc 6 Trần mà phát sinh ra Thọ, Thọ này không phải là do Thức biến. Các đối tượng thực tại không phải là do Thức biến ra, mà phát sinh do Căn – Trần tiếp xúc. Những gì không đúng với sự thật thực tại thì đó là Vô minh, Tà kiến, Vọng Tưởng.

Câu 5: Phân biệt hiểu biết về từ “cảm giác” của phàm và thánh

Phàm phu trong đời thường cũng dùng từ “cảm giác”, cũng biết đó là danh chứ không phải là thế giới vật chất. Bậc thánh cũng dùng từ “cảm giác”, biết đó không phải là thế giới vật chất. Vậy khác nhau căn bản chỗ nào?

Trả lời:

Thứ nhất, bình thường con người vẫn dùng từ “cảm giác” nhưng phạm vi của từ “cảm giác” con người dùng rất hạn chế. Đó chỉ là các cảm giác trên thân, cảm giác xúc chạm thôi. Thí dụ, họ biết cảm giác đói, no, ngứa… nhưng đó chỉ là các cảm giác xúc chạm trên thân, hay họ biết cảm giác ngon, dở… họ chỉ biết trong cái đó thôi. Nhưng họ không biết được toàn bộ thực tại này là cảm giác.

Họ không biết: cái được thấy là cảm giác, cái được nghe là cảm giác, cái được ngửi là cảm giác… Họ chỉ biết một phần cảm giác xúc chạm và một phần cảm giác vị thôi. Còn họ không biết toàn bộ những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận của thực tại này là cảm giác.

Thứ hai, tuy rằng họ nói đó là “cảm giác” nhưng lại hiểu biết sai về cảm giác, và luôn luôn Chấp ngã: Tôi đau, Tôi ngứa, Tôi đói, Tôi no… Cảm giác của họ là luôn gắn liền với tư tưởng Chấp ngã, có một cái Tôi, Ta là chủ nhân, chủ sở hữu của các cảm giác đó.

Họ rất lẫn lộn, nói là chân tôi đau, bụng tôi đói… thì họ cho rằng đó là cái đau của chân, của tay, cái đói của bụng,… chứ họ không biết đó là tâm, là cảm giác.

Cho nên, quý vị phân biệt: phàm phu cũng biết cảm giác, cũng dùng từ cảm giác nhưng hiểu sai về cảm giác. Còn quý vị quán cảm giác thì hiểu biết: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh cảm giác – 6 loại cảm giác, cảm giác đó là tâm chứ không phải vật, cảm giác đó vô thường, vô chủ vô sở hữu.

Câu 6:  Có phải mọi thứ mình đang thấy là không có thật?

Thưa sư, qua bài giảng của sư về Căn – Trần tiếp xúc sinh ra cảm giác (Thọ) và tâm Biết trực tiếp (Căn thức), con hiểu rằng khi mắt (Căn) tiếp xúc với Sắc Trần phát sinh cảm giác hình ảnh (là Thọ, là tâm) nghĩa là tất cả mọi thứ mà mình đang thấy chỉ là cảm giác hình ảnh, không phải là thật. Từ sự hiểu đó con suy ngẫm và suy ra rằng cái mà ta đang gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân… cũng chỉ là “cảm giác hình ảnh” không phải là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân… thật. Cái thật mình không thấy. Con hiểu như vậy có đúng không ạ?

Trả lời:

Quý vị hiểu những gì mình thấy là cảm giác hình ảnh, nó là tâm, do mắt tiếp xúc với sắc trần mà phát sinh ra. Rồi những gì nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy, xúc chạm thấy, tưởng thấy đều là cảm giác, đều là Tâm chứ không phải Vật. Quý vị nói rằng những cái đó không phải thật, ý nói những cái gì là Vật chất mới là thật, còn Tâm là không thật, và nếu nó là không thật thì là giả. Cách hiểu như vậy là không đúng.

Những gì quý vị thấy, nghe, cảm nhận là có thật, chứ không phải giả. Nó có thật nhưng từ trước đến nay người ta hiểu lầm cái đó là Vật, còn bây giờ quý vị hiểu đúng sự thật nó là Tâm, và Tâm là có thật chứ không phải là không thật.

Tất cả các sự vật hiện tượng chia làm 2 loại: Tâm và Vật (hay Danh và Sắc) thì đều có thật cả. Từ trước đến nay hiểu biết con người mặc định là những gì mình thấy, nghe, cảm nhận được là có thật, là thế giới vật chất, còn những gì là Tâm thì không thấy được. Nhưng bây giờ quý vị học quan sát sự thật thì những gì quý vị thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm được là Tâm, là cảm giác mà thuật ngữ Phật học gọi là Cảm Thọ.

Bây giờ nếu hỏi Tâm là gì thì rất nhiều người kể cả Bắc Tông và Nam Tông đều bối rối không trả lời được. Còn quý vị học, tư duy và thực hành để hiểu đúng sự thật: Tâm gồm rất nhiều loại tâm, mà có thể chia làm 4 nhóm Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

  1. Nhóm Thọ: gồm 6 Thọ, 6 loại cảm giác, chính là những gì mình thấy, nghe, cảm nhận. Cho nên là thấy được tâm, ngửi được tâm, nếm được tâm,… chứ đâu có phải Tâm là cái gì mà không thấy được. Thọ là đối tượng thực tại, là thấy, nghe, cảm nhận được nó.
  2. Tưởng, Hành, Thức: không thể thấy, nghe, cảm nhận được nó mà chỉ có thể biết qua suy luận.

Tóm lại: Thực tại có cả tâm và vật, nhưng chúng ta chỉ có thể thấy, nghe, cảm nhận TRỰC TIẾP được Tâm thôi (Tâm Thọ – Cảm giác), còn 3 loại tâm khác là Tưởng, Hành, Thức và Sắc (Vật chất) thì không thể thấy, nghe, cảm nhận trực tiếp được nó mà biết nó qua suy luận, dựa trên dữ liệu của cái Thấy trực tiếp.

Câu 7:  Hiểu đúng nghĩa của từ “giòn” trong bài giảng

Có một túi bánh đa, chẳng may bị rơi, bánh đa bị vỡ, chúng ta có công nhận là bánh đa này giòn? Vậy đâu là sự thật ạ?

Trả lời:

Nếu bánh đa bị rơi chưa chắc bánh đa bị vỡ, bởi nó chỉ là một nhân. Bánh đa bị vỡ hay không còn phụ thuộc vào nhân thứ hai là bánh đa rơi trúng CÁI GÌ. Bánh đa rơi trúng Vật cứng thì có thể xảy ra Vỡ nhưng rơi trúng vật MỀM hơn (miếng xốp, tấm ni lông…)  thì không thể Vỡ.

Phải đọc kỹ bài giảng để hiểu được từ GIÒN đang dùng trong bài giảng này sử dụng trong ngữ cảnh nào, đang ám chỉ sự kiện nào. Từ GIÒN dùng trong bài giảng ám chỉ hiện tượng Răng Tiếp xúc với Bánh đa phát sinh CẢM GIÁC (Giòn), còn từ GIÒN trong trường hợp Bánh đa tiếp xúc với Đất thì mang một nội dung hoàn toàn khác.

Sự thật thì đi ngược lại Hiểu biết (Vô minh) của nhân loại, là điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu. Chỉ những ai quan sát và tư duy trên sự thật, bỏ qua một bên CHẤP THỦ hiểu biết thế gian mới có thể lĩnh hội.

Câu 8:  Phân biệt giữa Vị ngọt và Tham ái vị ngọt

Con có nghe bài giảng rằng “Vị ngọt không nguy hiểm, mà THAM ÁI vị ngọt mới nguy hiểm”, hoặc các đạo hữu chia sẻ “Thành công hay hạnh phúc không nguy hiểm, mà THAM ÁI Thành công hay hạnh phúc mới nguy hiểm”. Phải phân biệt hai cái này rất rõ để không nhầm lẫn.

Tuy nói thì rất rõ ràng nhưng không phải ai cũng thoát khỏi THAM ÁI vị ngọt/thành công/hạnh phúc. Nó vi tế đến mức chính mình không nhận ra hoặc không thừa nhận CÓ THAM ÁI. Nên nếu không hiểu rõ câu nói “Vị ngọt không nguy hiểm mà THAM ÁI vị ngọt mới nguy hiểm” thì còn sử dụng tư tưởng này như một tấm lá chắn che mờ sự THAM ÁI vi tế đã được lập trình sâu dày, và còn có thể tô bồi thêm bản ngã, chấp rằng ta đang học và làm theo Chánh pháp.

Con thấy như vậy, con thấy tư tưởng này cũng nguy hiểm, kính mong Sư giảng giải thêm.

Trả lời:

Đức Phật tìm ra: ‘Tham ái vị ngọt là nguy hiểm’ không có tính chất thần thánh ban cho hoặc Thượng đế mặc khải, mà dựa trên những kiến thức của con người, của tôn giáo thời đó. Đó là: ‘Vị ngọt là nguy hiểm’ nên chủ trương tu khổ hạnh để xa lánh vị ngọt, xua đuổi vị ngọt, chấm dứt vị ngọt. Khi chưa giác ngộ, Đức Phật cũng bị chi phối bởi tư tưởng ‘vị ngọt là nguy hiểm’ nên phải khổ hạnh. Nhưng trong quá trình tu hành và tư duy Ngài phát hiện ra: Tham ái vị ngọt là nguy hiểm chứ không phải vị ngọt là nguy hiểm. Và đây là bước đột phá cốt lõi tìm ra Nguyên nhân khổ là Tham ái vị ngọt chứ không phải Nguyên nhân khổ là Vị ngọt như nhận thức trước đó.

Phân biệt giữa Vị ngọt và Tham ái vị ngọt, Phân biệt giữa Cảm nhận vị ngọt và Không tham ái vị ngọt là sự trạch pháp rất sâu sắc, đòi hỏi sự tu tập liên tục, tuỳ từng người mà mức độ chứng đạt có khác nhau và diễn đạt có khác nhau.

Phải nhớ là những điều này phải: Học từ từ, Hành từ từ, Chứng đạt từ từ. Từ từ nhưng phải liên tục mới trạch pháp được và không nôn nóng đốt cháy giai đoạn.

Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận