BÀI 4: LỘ TRÌNH TÂM BÁT TÀ ĐẠO
Câu 1: Tại sao chỉ có mỗi sư Nguyên Tuệ giảng về Bát Tà Đạo?
Trả lời:
Ở những nơi khác hoặc quý vị đọc trong kinh về Bát Chánh Đạo, chưa bao giờ nghe về Bát Tà Đạo. Ở đây, Sư Nguyên Tuệ lại giảng cả Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo. Quý vị phải hiểu thế này: rõ ràng quý vị có tham dự khóa tu ở đâu thì Pháp học rất ít giảng dạy đến Bát Chánh Đạo, có nói qua thôi, nhưng đặc biệt Bát Tà Đạo thì chưa ai nói đến cả. Vì vậy, khi tôi giảng Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo thì rất nhiều người cho rằng là Tà kiến, và cho đến nay họ vẫn dị ứng với điều đó.
Phật giáo Nam tông, rất nhiều người cho rằng nói Bát Tà Đạo là Tà kiến, nhưng họ không hiểu rằng trong kinh điển, Đức Phật nói cả Bát Chánh Đạo và Bát Tà Đạo.
Đức Phật nói trong kinh Pháp Cú: “Đường này đến thế gian, đường kia đến Niết bàn, Tỷ kheo đệ tử Phật, phải ý thức rõ ràng.” Phải ý thức được cả hai con đường. Nếu con đường thứ nhất là Bát Chánh Đạo thì phải biết được con đường thứ hai là Bát Tà Đạo nữa chứ, hai con đường chứ không phải là một con đường. Chỉ khi nào khảo sát được con đường thứ nhất là Bát Tà Đạo, lúc đó mới hiểu đúng sự thật về Khổ đế và Tập đế. Còn khi khảo sát Bát Chánh Đạo, lúc đó chỉ là hiểu biết đúng sự thật về Diệt đế và Đạo đế thôi.
Vì vậy, để giác ngộ Tứ Thánh Đế thì phải khảo sát, phải tuệ tri cả hai con đường Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo, chứ không phải một mình Bát Chánh Đạo đâu. Và quý vị có thấy rằng nghiên cứu tâm có phải là từ Bát Tà Đạo mới tìm ra Bát Chánh Đạo không? Nếu không thông thạo, không thông hiểu, không hiểu biết sâu sắc về Bát Tà Đạo thì không bao giờ có thể tìm ra Bát Chánh Đạo cả. Cho nên, Đức Phật quan sát trên sự thật đó, đầu tiên là phải quan sát Bát Tà Đạo cái đã.
Câu 2: Do duyên gì mà Vô minh sinh khởi?
Trả lời:
Vô minh trong hiện tại, là hiểu biết sai sự thật, là Tà tri kiến trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Lộ trình khởi lên Vô minh là: Duyên với Tà niệm mà khởi lên Tà tư duy; Duyên Tà tư duy mà khởi lên Tà tri kiến (Vô minh). Vậy Vô minh khởi lên do Tà tư duy là một nhân phải Duyên với nhân thứ hai là gì mới khởi lên Vô minh. Nhân thứ hai đó chính là THÔNG TIN VÔ MINH được lưu trong bộ nhớ.
Đến đây có thể khởi lên câu hỏi: Vậy do duyên gì mà Vô minh được lưu vào kho chứa? Câu trả lời trong kinh điển được cho là của Đức Phật: Không thể biết được Vô minh (thông tin Vô minh) khởi sinh từ vô thuỷ cụ thể ở giai đoạn nào.
Tại sao Đức Phật lại trả lời như vậy? Vì Ngài dạy nhất quán: Quá khứ không truy tìm; Tương lai không ước vọng; Chỉ có pháp hiện tại; Tuệ quán chính là đây; Không động không rung chuyển.
Câu 3: Phân biệt khái niệm Thiện và Ác
Theo con hiểu, việc thiện là những việc giúp mình hoặc người khác theo con đường Bát Chánh Đạo, và ác là ngược lại. Vậy thì đa phần mọi việc đều ác hay sao?
Trả lời:
Khái niệm thiện và ác xuất phát trong Phật giáo, còn trong các tôn giáo khác và cuộc đời thì ít khi đề cập đến thiện và ác. Có thể các trường phái khác, thế tục cũng có nói đến thiện ác, nhưng thiện ác là xuất phát từ Giáo Pháp của đạo Phật.
Trong Giáo Pháp của đạo Phật đã định nghĩa rõ thế nào là Thiện, thế nào là Ác: Căn bản của bất thiện, tức là căn bản của ác, đó là: Tham là bất thiện, Sân là bất thiện, Si là bất thiện. Tham Sân Si là căn bản của bất thiện, là căn bản của ác. Những việc gì, hành động, lời nói, ý nghĩ nào mà do Tham Sân Si khởi lên thì đều là bất thiện, là ác cả. Những gì không có Tham Sân Si thì mới gọi là thiện.
Cho nên, đã là lộ trình tâm Bát Tà Đạo có Tham Sân Si thì đều là ác bất thiện pháp. Chỉ có Bát Chánh Đạo thì lúc đó mới gọi là thiện.
Bây giờ người ta dùng từ thiện ác hoàn toàn sai lạc nội dung gốc của thiện và ác trong Phật giáo. Nghĩa gốc của thiện và ác là liên quan đến Tham Sân Si. Cũng như nghĩa của từ Tà và Chánh: Tà thì liên quan đến Tham Sân Si, còn Chánh thì không liên quan đến Tham Sân Si.
Câu 4: Lý giải vì sao con người lúc thiện lúc ác
Thiền sư cho con hỏi về hiện tượng phẩm cách của con trong trạng thái này gọi là gì ạ: Có lúc con hiền trí và thông thái, bao dung độ lượng, buông bỏ. Có lúc con vụn vặt, tủn mủn, chấp này chấp kia, thậm chí là tham lam, sở hữu. Con nhận ra và bỏ liền, nhưng ngày mai lại như vậy, giống thằng thiện và ác thường trực trong con. Là gì vậy thưa sư?
Trả lời:
Đó là lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Những biểu hiện của quý vị là bằng thái độ, lời nói, hành động, đương nhiên, nó phải do cái Biết ý thức, biết về đối tượng đó, thì lúc đó mới phát sinh hoặc Tham hoặc Sân hoặc Si với những đối tượng đó. Những cái mà quý vị mô tả đó là biểu hiện của thái độ hoặc Tham hoặc Sân hoặc Si, và từ Tham Sân Si mới phát sinh ra các lời nói, hành động để cư xử với các đối tượng đó. Đương nhiên, lời nói hành động đó lúc thì thế này, lúc thì thế khác, nhưng nó đều là do hoặc Tham hoặc Sân hoặc Si mà khởi lên.
Không phải tự nhiên những cái đó bột phát lên, mà nó phải có nhân có duyên của nó. Những nhân duyên của nó là lộ trình tâm: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, rồi thông tin Thọ – Tưởng đó tương tác với lượng thông tin ở trong bộ nhớ pháp trần. Trong bộ nhớ pháp trần thì lưu lại những thông tin mà quý vị đã sống trước đây: lúc thì hiền, lúc thì dữ, lúc thì ân tình, lúc thì phản bội, lúc thì thiện, lúc thì ác, lúc thì thánh, lúc thì phàm, lúc thế này, lúc thế khác… Tất cả những điều mà quý vị đã sống như vậy đều được lưu vào bộ nhớ dưới dạng thông tin, khi lộ trình tâm khởi lên thì nó kích hoạt những thông tin đó, tương hợp với những gì xảy ra trong hiện tại.
Quý vị khảo sát sâu về lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì quý vị sẽ hiểu được cái này. Điều quan trọng là, tất cả mọi lộ trình tâm, mọi hiểu biết, thái độ, lời nói, hành động, kết quả Khổ Vui, mọi trạng thái tâm đều được lưu vào trong bộ nhớ, nó là cái nhân để lộ trình tâm sau có duyên với những cái đó, tương tác với những cái đó khởi lên kết quả của hiện tại.
Trong con người lúc thế này, lúc thế kia… nhưng tất cả những cái đó đều đã có trong bộ nhớ. Đến ngày thứ 7 quý vị học về luân hồi tái sinh thì quý vị mới có thể hiểu thêm về vấn đề này và tự mình lý giải.
Câu 5: Lộ trình tâm sơ cấp và thứ cấp
Theo lộ trình tâm, Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng rồi mới đến Khổ. Vậy tại sao có những trường hợp mình Tư duy thôi cũng đã thấy khổ rồi. Vậy có khi nào lộ trình tâm Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến xong Khổ khởi lên không?
Trả lời:
Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến chưa khởi lên khổ, mà chỉ từ Tham Sân Si mới phát sinh khổ. Đương nhiên, ở lộ trình tâm Bát Tà Đạo chúng ta mô tả: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, tiếp đến Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến, rồi mới phát sinh Tham Sân Si – Tà định – Dục – Tà tinh tấn – Phi như lý tác ý – Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, rồi Khổ Vui là cuối cùng. Ở đây, chúng ta mô tả một cách tổng quát, còn thực tế, lộ trình tâm là vô thường, nó có thể kết thúc ở bất kỳ chỗ nào.
Kể từ Tham Sân Si thì có những lộ trình tâm thứ cấp khởi lên Khổ ngay.
Thí dụ một tâm Sân khởi lên, tâm Sân đó (là một tâm hành) phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ. Khi tâm Sân đó diệt thì lượng thông tin của tâm Sân đó sẽ truyền dẫn đến các bộ phận nội tạng (tim, gan, thận, phổi…). Tại đây, lượng thông tin Sân được dẫn truyền tương tác với thông tin di truyền ở các tế bào nội tạng làm phát sinh một lộ trình tâm nội xúc. Và lộ trình tâm nội xúc đó cũng là Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, Thọ ở đây là cảm giác xúc chạm, và Tưởng ở đây là cái Thấy. Tiếp lộ trình Tà niệm – Tà tư duy làm phát sinh cái Biết, biết là có cảm giác khổ khởi lên.
Tham Sân Si khởi lên, ngay lúc đó là nó truyền dẫn đến vùng nội tạng, phát sinh lộ trình tâm gọi là thứ cấp, và các cảm giác phát sinh ở vùng nội tạng đó là các Khổ thọ. Cho nên lúc đó con người cảm thấy rất là khổ. Dân gian người ta cũng có nhận xét: vui quá thì hại tim, buồn thì hại phổi, lo lắng thì hại dạ dày… Để quý vị biết rằng, tham phát sinh vui là phát sinh cảm giác nơi tim, buồn phát sinh cảm giác nơi phổi, lo lắng lo sợ (sân) thì phát sinh cảm giác nơi dạ dày, gan ruột…
Ngay khi Tham Sân Si khởi lên thì nó đã phát sinh các lộ trình tâm thứ cấp, phát sinh khổ ở vùng nội tạng rồi.
Câu 6: Phân biệt cảm giác và cảm xúc
Các cảm giác mà Sư đề cập ở đây bao gồm những cảm giác gì? Cảm giác có phải là cảm xúc không?
Trả lời:
Cảm giác là gì? Khi học bài thứ ba “Sự giác ngộ của Đức Phật”, quý vị hiểu rằng cảm giác ở đây là chúng ta nói: sáu Căn tiếp xúc với sáu Trần phát sinh đồng thời cái Thấy và Cảm giác; hay nói là Căn, Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ, Tưởng. Thọ là cảm giác, bao gồm sáu loại: cảm giác hình ảnh, cảm giác âm thanh, cảm giác mùi, cảm giác vị, cảm giác xúc chạm, và cảm giác pháp trần. Cảm giác là nói những cái đó.
Cảm giác có phải là cảm xúc không? Chúng ta phải hiểu Căn – Trần tiếp xúc thì phát sinh cảm giác, là đối tượng của thực tại; còn cảm xúc phát sinh do thái độ Thích, Chán, Ghét hay Tham, Sân, Si – chính thái độ đó phát sinh cảm xúc. Bản thân cảm xúc cũng là cảm giác, nhưng do thái độ thích, chán, ghét mà phát sinh ra, cho nên cái cảm giác của cảm xúc, ta gọi là do lộ trình tâm thứ cấp phát sinh ra.
Tạm gọi lộ trình tâm sơ cấp là Căn – Trần tiếp xúc, thí dụ như mắt tiếp xúc với Sắc trần phát sinh cảm giác hình ảnh đồng thời phát sinh nhãn thức thấy cảm giác hình ảnh, rồi Tà niệm, Tà tư duy khởi lên: Ta thấy một cô gái đẹp. Cái Biết ý thức khởi lên như vậy làm phát sinh thích thú hình ảnh đó và do đó mới phát sinh cảm xúc. Khi thích thú thì thông tin đó truyền đến các bộ phận như tim, phổi chẳng hạn, tại đó phát sinh một nội xúc, nội xúc đó sẽ phát sinh cảm giác thích thú và cảm giác thích thú, cảm giác vui đối với cô gái đó gọi là cảm xúc, chính là cảm giác của lộ trình tâm thứ cấp.
Điều này phải học nhiều, nghe nhiều thì quý vị sẽ phân biệt được.
Câu 7: Khổ vui là tâm hành hay là cảm giác?
Trong phần định nghĩa về Tâm, Sư có giảng là Khổ, Vui thuộc nhóm Tâm Hành (hành uẩn) – mà tâm hành thì chỉ có thể nhận biết thông qua tư duy suy luận gián tiếp. Vậy khi nói Khổ, Vui là cảm giác (được cảm nhận trên thân) thì có gì mâu thuẫn ở đây không?
Trả lời:
Cái này cũng rất vi tế. Tại sao nói Khổ Vui là các Tâm Hành? Bởi vì tâm hành này phát sinh là do ý tiếp xúc với pháp, cụ thể là sự tương tác giữa các lượng thông tin trong bộ nhớ, xảy ra trong tế bào thần kinh não bộ. Cho nên Khổ Vui thuộc về Hành uẩn.
Nhưng quý vị sẽ cảm nhận Khổ Vui bởi cảm giác trên thân. Khi cảm nhận Khổ Vui đó thì lại là cảm nhận cảm giác. Tiến trình từ Hành uẩn làm phát sinh lộ trình có cảm giác thì phải hiểu như thế này:
Ví dụ tâm hành Thích thì nó phát sinh tâm hành Vui, phát sinh trong não bộ. Và lượng thông tin tâm hành Vui mới được truyền dẫn đến các tế bào trong cơ thể. Các thông tin tâm hành Vui đó mới tương tác với thông tin di truyền của các tế bào thuộc vùng nội tạng, đặc biệt là vùng tim, phổi. Do sự tương tác như vậy mà phát sinh lộ trình tâm, do nội xúc đó mà phát sinh Thọ – Tưởng, tức phát sinh cảm giác xúc chạm và thân thức ghi nhận cảm giác xúc chạm đó. Chính cảm giác xúc chạm đó là cảm giác dễ chịu, cảm giác vui phát sinh nơi vùng nội tạng, tim phổi.
Cho nên tâm hành Vui phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ. Còn cảm giác vui mà con người cảm nhận được là nội xúc giữa thông tin tâm hành Vui đó với tế bào tim phổi. Dân gian mới đúc kết kinh nghiệm: vui quá thì hại tim.
Tâm hành khổ/vui phát sinh tại tế bào thần kinh não bộ. Rồi những thông tin đó được truyền dẫn đến vùng nội tạng. Tại đó xảy ra nội xúc là tương tác giữa thông tin tâm hành khổ/vui với thông tin di truyền của các tế bào thuộc vùng nội tạng làm phát sinh Thọ – Tưởng: cảm giác khó chịu/dễ chịu đồng thời phát sinh thân thức ghi nhận các cảm giác đó. Những cảm giác khổ/vui là con người cảm nhận được trên thân, nhưng xuất phát từ các tâm hành khổ/vui phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ.
Tâm hành là do sự tương tác giữa các thông tin xảy ra trong bộ nhớ, nơi tế bào thần kinh não bộ, nhưng cảm giác Vui là con người cảm nhận được qua thân thức ghi nhận nội xúc xảy ra tại các tế bào chức năng tương ứng (ví dụ ở vùng nội tạng) nhưng là xuất phát từ các tâm hành như Khổ, Vui, lo lắng, sợ hãi… (thông tin khổ/vui xuất phát từ tế bào thần kinh não bộ được truyền dẫn đến các tế bào chức năng).
Câu 8: Mối liên hệ giữa con tim và khối óc
Xin hỏi Thiền Sư: con người không chỉ có tư duy lý trí mà còn có tình cảm; cảm xúc có liên hệ với trái tim mà một số nhà khoa học ngày nay cho rằng các tế bào trong quả tim hình như cũng có vai trò dẫn dắt cho hành vi con người tương tự như tế bào não bộ. Đạo Phật có phải là thiên về sử dụng não bộ, tư duy hơn là Đạo Thiên Chúa chủ thuyết Đức Tin dựa nhiều vào cảm xúc của con tim? Thiền Sư có ý kiến như thế nào về liên hệ giữa con tim và khối óc, mối liên hệ cấu trúc giữa chúng nên hiểu như thế nào, có sự tách rời phân chia hay không? Trong cuộc sống nhiều khi con người thường bị thuyết phục thiên về tình cảm hơn là lý trí là do đâu, nguồn gốc sâu xa ở điểm nào?
Trả lời:
Quan niệm cho rằng, lý trí thuộc đầu óc, tình cảm thuộc con tim là do không hiểu biết về tâm. Ý thức và tư tưởng xảy ra nơi đầu óc và do tư tưởng Tà kiến phát sinh do tương tác thông tin xảy ra nơi tế bào thần kinh não bộ làm phát sinh Tham Sân Si, tức phát sinh thích ghét, phát sinh tình cảm (yêu ghét) cũng nơi tế bào thần kinh não bộ chứ không phải nơi tế bào tim.
Khi thông tin yêu ghét phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ được truyền dẫn đến vùng nội tạng như tim, phổi, gan, thận, dạ dày, ruột… sẽ tương tác với thông tin di truyền của các tế bào nội tạng. Nội xúc đó sẽ phát sinh lộ trình tâm (thứ cấp) làm phát sinh Cảm giác Khổ Vui (Đau khổ, Hạnh phúc). Cảm nhận Hạnh phúc hay Khổ đau là cảm nhận các Cảm giác vùng nội tạng. Đặc biệt là cảm nhận yêu ghét mạnh là cảm nhận cảm giác nơi tim, nhận rõ cảm giác vùng tim rất mạnh, rung động mạnh. Y khoa cổ truyền có nhận xét là: vui hại tim, buồn hại phổi, lo lắng hại dạ dày, sợ hãi hại thận…
Như vậy, lý trí và tình cảm đều phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ, tình cảm yêu ghét là kết quả của ý thức Tà tri kiến không xảy ra nơi tim. Lộ trình tâm thứ cấp xảy ra nơi tim do Nội xúc Trần tiếp xúc với Thân Căn (tế bào thần kinh xúc giác nơi tim) chỉ phát sinh Cảm giác xúc chạm – Thân thức, còn tiếp theo là Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến biết Ta đang hạnh phúc, hay Ta đang đau khổ lại xảy ra nơi tế bào thần kinh não bộ.
Kể cả các luận sư Phật giáo cũng hiểu sai Ý Căn là trái tim hay là chất nước ở trong trái tim, họ chưa hề có hiểu biết Ý Căn là tế bào thần kinh não bộ.
Câu 9: Bản chất của tình yêu thương
Bản chất của tình yêu thương là gì? Làm sao để rèn luyện tình yêu thương, và điều đó có cần thiết không?
Trả lời:
Bản chất của tình yêu thương là tham ái. Nó phát sinh trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Nơi nào mà phát sinh yêu thương thì nơi đó cũng phát sinh thù hận. Bởi vì bản chất của Bát Tà Đạo có hai mặt: yêu và ghét. Yêu là tình thương, ghét là thù hận.
Triết học duy vật biện chứng đã phát hiện ra một quy luật rằng thế giới luôn tồn tại hai mặt đối lập, mâu thuẫn, chống đối và đấu tranh với nhau, không bao giờ chỉ có một mặt. Thế giới mà triết học duy vật quan niệm là thế giới vật chất, nó vận hành và tồn tại với hai mặt đối lập, mâu thuẫn, chống đối nhau. Nhưng sự thực, hai mặt đối lập, mâu thuẫn, chống đối nhau này lại thuộc về tâm chứ không phải thuộc về thế giới vật chất. Đó chính là thực tại của con người, chính là thực tại Bát Tà Đạo.
Quý vị sẽ thấy yêu thương là vị ngọt, là hạnh phúc, nhưng đó cũng chính là nguyên nhân làm phát sinh đau khổ. Quý vị có thể tìm đọc bài “Sự thật về yêu thương” trên trang Facebook của tôi hoặc trên trang mạng của Gosinga.
Trong thực tại thế gian, thực tại Bát Tà Đạo thì có yêu và có ghét. Chúng biểu hiện ra rất nhiều khía cạnh khác nhau. Yêu Ghét chính là yêu thương và thù hận, đó là hai mặt của một thực tại, không thể có mặt này mà không có mặt kia.
Khi quý vị thực hành Bát Chánh Đạo thì thực tại là khác. Bởi vì thực tại là tâm, chứ không phải thực tại cảnh. Bát Tà Đạo là một thực tại, Bát Chánh Đạo là một thực tại khác. Bát Chánh Đạo đó không có thích ghét, không có Khổ Vui. Cho nên, trong Bát Chánh Đạo không có yêu thương, cũng không có thù hận. Hai mặt đó không tồn tại nơi Bát Chánh Đạo.
Trong Bát Chánh Đạo có Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng – là những lời nói, hành động, cư xử tử tế, thân thiện, đúng mực với các đối tượng khác, phát sinh từ hiểu biết Chánh Kiến, hiểu biết đúng sự thật. Chứ hoàn toàn, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng không có yêu thương.
Vì vậy, quý vị thấy rằng điều này hoàn toàn khác với hiểu biết của thế gian. Bởi vì thế gian cho rằng yêu thương là hạnh phúc, mà không thấy rằng yêu thương chính là tham ái, nguy hiểm, vì nó là nguyên nhân đưa đến khổ.
Câu 10: Quan niệm Sống Biết Đủ
Thưa sư, khi chưa học pháp, con có đọc các cuốn sách nói về việc sống biết đủ, ví dụ như mình có cái nhà dù không to rộng nhưng thấy vẫn may mắn hơn nhiều người không có nhà. Con thấy việc đó vẫn có thể đưa đến hạnh phúc nội tâm, vậy lộ trình tâm đó nằm trên Bát Chánh Đạo hay Bát Tà Đạo?
Trả lời:
Hạnh phúc đó là Hạnh phúc phát sinh do Thích thú cái nhà thuộc về thế giới ngoại cảnh, trong Phật giáo gọi là Dục lạc. Hạnh phúc đó thuộc về Bát Tà Đạo. Bát Tà Đạo bản chất là Vô minh, Chấp ngã, luôn luôn so sánh Ta với Đối tượng để kết luận: Ta hơn, Ta kém hoặc Ta bằng đối tượng đó.
Trong trường hợp cụ thể cái nhà thì đã có tư tưởng Chấp ngã: Ta là cái nhà, cái nhà là của Ta và khi so sánh với những người không có nhà, những cái nhà lụp xụp, xấu xí… thì kết luận Ta hơn. Do vậy, thích thú cái ý nghĩ Ta hơn đó. Do thích thú với ý nghĩ Ta hơn, cái nhà của Ta hơn nên phát sinh tâm trạng Vui – Thoải mái. Đó chính là Hạnh phúc, một thứ Dục lạc do tham ái phát sinh.
Nhưng Hạnh phúc hay Dục lạc này là vô thường, sinh lên trong giây lát rồi diệt, không thể kéo dài. Vì sao? Vì cái ý nghĩ Ta hơn làm phát sinh Hạnh phúc cũng chỉ tồn tại trong giây lát, không thể kéo dài nó trong 10 phút chứ nói gì đến 1 ngày, vì những ý nghĩ khác liên tục khởi lên từ chuyện này đến chuyện khác.
Lại nữa, ý nghĩ Ta hơn, nhà của Ta hơn không phải là DUY NHẤT mà khi thấy các Căn nhà khác nữa thì ý nghĩ so sánh sẽ TỰ ĐỘNG khởi lên làm phát sinh tư tưởng Ta bằng, Ta kém, Căn nhà CỦA TA bằng, kém thì bực bội, ghen tỵ, đau khổ sẽ có mặt.
Nếu con người làm chủ, điều khiển được ý nghĩ, tư tưởng Ta hơn, hoặc biết đủ từ Căn nhà cho đến mọi thứ khác suốt ngày, suốt đời thì chắc chắn người đó sẽ Hạnh phúc suốt ngày, suốt đời, không còn đau khổ nữa. Nhưng sự thật xảy ra đã chứng minh rằng: TẤT CẢ ĐỀU VÔ CHỦ VÔ SỞ HỮU – không thể làm chủ, điều khiển nó theo ý muốn Vô minh, Tà kiến trên Bát Tà Đạo.
Chừng nào mà không còn tư tưởng Chấp ngã, tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu thì không còn cái Ta, của Ta để so sánh với đối tượng, không còn Ta hơn, Ta kém, Ta bằng thì sống thích nghi mọi đối tượng, không còn khái niệm BIẾT ĐỦ của thế gian. Chỉ có an trú Tứ Niệm Xứ, an trú Bát Chánh Đạo với TỈNH GIÁC và CHÁNH KIẾN thì sẽ kinh nghiệm được điều đó và kinh nghiệm được một thứ Hạnh phúc nội tâm kỳ diệu, một tâm trạng Tích cực – Vui – Thoải mái do Chánh định phát sinh.
Câu 11: Nhân Tướng Học là Tà kiến hay Chánh kiến?
Thưa sư, con làm ngành nhân tướng học. Vậy khi tiếp xúc với ai đó và nhận định họ qua góc nhìn của con trong nhân tướng học thì con có phạm vào Tà tri kiến không ạ? Nếu có xin sư hướng dẫn giúp con.
Trả lời:
Đến đây, quý vị phải tự mình tư duy. Quý vị đã được cung cấp một hệ quy chiếu mới, những kiến thức mới. Quý vị phải tư duy, tức là so sánh, đối chiếu những gì về nhân tướng học với hệ quy chiếu mới này. Nếu quý vị đối chiếu với hệ quy chiếu cũ, quý vị sẽ mặc định đó là những kiến thức đúng đắn, lợi lạc. Còn nếu quý vị so sánh những kiến thức đó với hệ quy chiếu mới (những kiến thức quý vị học ở đây), quý vị sẽ tự rút ra kết luận nó là Tà kiến hay Chánh kiến.
Quý vị thấy rằng, ví dụ, người biết xem tướng, người ta thường nói là có “bệnh nghề nghiệp”, thì hễ nhìn ai là nhận xét, đánh giá người đó liền phải không? Và khi đã nhận xét, đánh giá thì có yêu ghét liền đúng không? Theo kiến thức mình đã học, thấy người này tướng tốt thì thích, thấy người kia xấu thì ghét. Quý vị thấy rằng, người không có kiến thức đó khi nhìn mặt người khác sẽ không nhận xét, đánh giá, sẽ không thích ghét, không Khổ Vui vì những kiến thức đó.
Bây giờ quý vị học, quý vị có kiến thức đó. Đương nhiên, nếu quý vị học càng nhiều, xem tướng càng nhiều, những kiến thức đó, những thông tin đó là nổi trội, hễ nhìn thấy ai là niệm kích hoạt lên liền. Trí nhớ về những kiến thức đó mới nhận xét là người này thế này, người kia thế kia, và khi kiến thức đó khởi lên thì sẽ yêu ghét liền.
Quý vị thấy rằng khi thực hành phần Định, mục đích là để tách cái Thấy ra khỏi cái Biết, để an trú cái Thấy thuần túy – thấy mà không suy nghĩ, thấy mà không có cái Biết xen vào, thấy mà không có nhận xét, đánh giá đối tượng thì lúc đó an yên vô cùng phải không? Mục đích tu tập Định là để an trú cái Thấy thuần túy đó, để an trú Tâm giải thoát. Quý vị học ở đây rồi, quý vị đối chiếu thì mới thấy rằng nhân tướng học, khi tiếp thu được cái đó, có phải người đó khổ nhiều hơn người không biết nhân tướng không?
Trong bài học đầu tiên nói rằng “học, học nữa, học mãi – khổ, khổ nữa, khổ mãi” là bởi vì những kiến thức đó là Vô minh, Chấp ngã, làm phát sinh Tham Sân Si, phát sinh khổ. Biết càng nhiều càng khổ, là bởi cái Biết đó là biết Tà kiến.
Cái mà quý vị cần thay đổi nhận thức, thay đổi cái Biết từ Tà kiến sang Chánh kiến là cái Biết về Khổ Vui. Những kiến thức về nhân tướng, phong thủy, bói toán, long mạch, mồ mả, v.v… nếu quý vị quan sát kỹ, những kiến thức đó xuất phát từ hiểu biết Khổ Vui thuộc về thế giới ngoại cảnh, và họ đang dùng những cái đó để giải quyết Khổ Vui nơi thế giới ngoại cảnh.
Những kiến thức đó là hiểu biết Khổ Vui ở nơi thế giới ngoại cảnh, và cách giải quyết Khổ Vui nơi thế giới ngoại cảnh. Đó là Vô minh Tà kiến, làm phát sinh Tham Sân Si, làm phát sinh khổ thôi. Quý vị có nhận thức được như vậy, quý vị mới từ bỏ nó, chấm dứt nó.
Câu 12: Nỗi lo sợ mất người thân
Thưa sư, cho con hỏi khi mất giữa người giác ngộ và người không giác ngộ có gì khác nhau và sẽ đi về đâu ạ? Vì con rất lo sợ mất đi những người thân yêu. Suy nghĩ người nhà mất đi luôn ở trong suy nghĩ con và con nghĩ nếu chuyện đó xảy ra con không còn ý nghĩa gì nữa cả. Khi con đi khoá thiền 9 ngày con cứ lo sợ gia đình con có chuyện gì sẽ không liên lạc con được.
Trả lời:
Quý vị đang bị Tham ái ràng buộc, với gia đình với mọi thứ… đó chính là lộ trình tâm BÁT TÀ ĐẠO. Quý vị tu tập thế này để cắt đứt từng chút từng chút tham ái, ràng buộc đó, để không còn bị lo sợ mất những thứ đó. Phải hiểu: thực sự tất cả đều vô chủ, vô sở hữu, làm gì có quý vị là chủ nhân chủ sở hữu những đối tượng đó mà quý vị lo mất! Vì Tà kiến, hiểu biết sai sự thật, sống trái với quy luật vô chủ vô sở hữu, sống với tư tưởng làm chủ sở hữu nên cho rằng những đối tượng đó là Ta, Của Ta, nên mới luôn sợ mất.
Tu tập để thay đổi nhận thức: tất cả các sự vật hiện tượng đều là pháp duyên khởi, nên bản chất nó là vô thường, bản chất nó là vô chủ vô sở hữu. Cho nên, gia đình cha mẹ anh chị em họ hàng con cái: có sinh lên thì có diệt đi, đó là quy luật. Sống đúng với quy luật duyên khởi, vô thường, vô chủ thì không có khổ. Nhưng vì con người sống trái với quy luật vô thường nên luôn khao khát mong muốn thường còn, ổn định, muốn nó tồn tại mãi mãi, muốn trẻ mãi không già, trường tồn bất diệt. Vốn các sự vật hiện tượng là vô chủ, thì con người lại sống với tư tưởng làm chủ, cha mẹ nhà cửa là của Ta, khi mất đi thì không còn làm chủ được những thứ đó thì khổ khởi lên.
Thiền sư Nguyên Tuệ

