Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 15 – BẢN NGÃ
Câu 1: Thích sống sợ chết có phải là do thích sự hiện hữu của cái Ta và sợ mất đi sự hiện hữu của cái Ta?
Trả lời:
Loài người sống bởi Chấp ngã, chấp là có một cái Ta, cho rằng những cái đó là Của Ta: nhà cửa của Ta, vợ con của Ta, Tài sản của Ta, tiền bạc của Ta… mất đi những cái đó là khổ. Cho nên, sợ mất những cái đó là khổ.
Khi chết thì sợ mất gì? Mất cái Ta.
Tham sống sợ chết, tức tham thích cái Ta hiện hữu, sợ cái Ta đó chết, mất đi.
Câu 2: Làm sao để tránh được thân kiến và giới cấm thủ?
Con thường được chỉ định cúng ông bà tổ tiên trong đám giỗ vì là con trưởng. Trong công ty cũng được giao cúng cô hồn. Không từ chối được thì nên làm thế nào để tránh được thân kiến và giới cấm thủ ạ? Hay cứ chắp tay và Chánh Niệm thôi.
Trả lời:
Quý vị chắp tay miễn cưỡng như vậy thì chắc chắn là quý vị cũng chưa đoạn trừ được thân kiến và giới cấm thủ. Quý vị phải học và hành, học thôi, cái này chủ yếu là học. Quý vị học suốt cả khóa này, đặc biệt là ngày thứ 7 học về luân hồi tái sinh, để quý vị chấm dứt hiểu biết sai lầm là có một thế giới tâm linh, có một linh hồn hay có một tánh biết không sinh không diệt nào đó. Rồi quý vị hiểu được giới cấm thủ là như thế nào, giữ các điều luật do Tham do Sân là như thế nào.
Khi nào quý vị đoạn trừ được thân kiến, nghi, giới cấm thủ, thì lúc đó là quý vị TỰ BIẾT, khi đối diện với những trường hợp đó thì mình sẽ cư xử như thế nào. Lúc đó, Trí tuệ – cái trí tuệ do đã đoạn trừ Thân kiến, Nghi, Giới cấm thủ sẽ tự động khởi lên, đưa đến hành vi tương ứng của quý vị.
Bây giờ quý vị có đoán thế nào cũng không đoán được, bởi vì chỉ khi đạt được trí tuệ đó thì lúc đó hành vi tương ứng tự động xảy ra theo trí tuệ đó. Còn bây giờ quý vị chưa có trí tuệ đó, thì quý vị có đoán thế nào cũng không ra được. Đây cũng là đến để mà thấy.
Câu 3: Đời sống của con người gắn liền với tư tưởng làm chủ, sở hữu, điều khiển
Thưa thầy con không mong cầu người khác làm điều gì cho mình. Trong cuộc sống muốn điều gì, con sẽ tự làm cho mình. Tuy nhiên sống trong đời sống xã hội con vẫn có gia đình, có chồng có con. Chồng con thương con rất nhiều nhưng anh mong muốn kiểm soát con, muốn con từ bỏ sự nghiệp và lý tưởng của mình, kể cả con đường đi tìm đạo. Anh và gia đình chồng đều mong muốn con ở nhà nội trợ buôn bán. Gia đình đó lại không phải là lý tưởng cuộc sống mà con mong muốn! Anh nói nếu con không đáp ứng được thì ly hôn. Con không đáp ứng được yêu cầu của anh và gia đình anh và con quyết định ly hôn, con muốn bình yên để có thể tập trung vào hành trình tu tập và công việc của mình. Như vậy, con có đang tư duy và quyết định đúng không ạ?
Trả lời:
Bất kỳ một con người nào, nếu đã là lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì đều có tư tưởng Chấp ngã, đều sống với một cái Ta là chủ nhân, chủ sở hữu của thân tâm này, đó chính là tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, tư tưởng điều khiển. Đã là con người, đã là lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì có tư tưởng làm chủ, điều khiển. Chồng thì điều khiển vợ, vợ thì điều khiển chồng, đưa đến xung đột, và xung đột đó là xung đột của hai cái Ta. Chồng có cái Ta, vợ có cái Ta, con có cái Ta, cha mẹ có cái Ta, và những cái Ta đó đều muốn điều khiển các cái Ta khác, không có cái Ta nào chịu nhường cái Ta nào cả. Cho nên xung đột mới xảy ra.
Vì tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu đó gắn với sự thực cuộc sống, nên nhiều người thấy vợ/chồng, người thân mình ra bên ngoài đối xử với người ta tử tế thân thiện, nhưng về nhà thì luôn giận dữ, cáu gắt với vợ/chồng, người thân, hoàn toàn khác xa thái độ đối xử với người dưng. Quý vị biết vì sao không? Vì đối với người dưng thì không có tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, tư tưởng điều khiển, không có tư tưởng đó nên đối xử với người dưng thì nhẹ nhàng, thoải mái hơn.
Còn đối với người nhà của mình thì có tư tưởng sở hữu, có chữ “của” mà! Con Của Ta, chồng Của Ta, mẹ Của Ta, vợ Của Ta… Có chữ “của” đó, chính là tư tưởng sở hữu. Và chính tư tưởng sở hữu đó, nên mới điều khiển những gì mình sở hữu. Những khi vợ/chồng, con… nghe lời các thứ thì tưởng là mình điều khiển được, nhưng những khi vợ/chồng, con… phản đối thì cho rằng nó không nghe lời mình, tức là mình không điều khiển được, thì lúc đó là tức tối giận dữ. Đây là tư tưởng làm chủ, điều khiển, nó gây ra biết bao đau khổ, tổn thương trong gia đình.
Bây giờ quý vị phấn đấu nỗ lực để đạt được mong ước của con người là độc lập – tự do – hạnh phúc, nhưng lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì không bao giờ có độc lập – tự do – hạnh phúc được. Vì trong lộ trình tâm Bát Tà Đạo, tư tưởng của loài người là tư tưởng làm chủ, tư tưởng điều khiển, tư tưởng sở hữu, đó chính là tư tưởng ràng buộc. Con người ràng buộc với nhau bởi tư tưởng, không bao giờ có độc lập, tự do cả, và không bao giờ có hạnh phúc liên tục, bền vững cả. Chỉ khi nào thực hành Bát Chánh Đạo, lúc đó quý vị mới đạt đến độc lập – tự do – hạnh phúc liên tục và bền vững.
Nếu qua khóa học này mà quý vị hiểu được, thì quý vị sẽ thấy là cần quyết tâm để thực hành, thay đổi cuộc đời mình, để mình đạt đến độc lập – tự do – hạnh phúc.
Trong đời sống gia đình của quý vị như vậy, là hoàn toàn bị ràng buộc, bị trói buộc bởi tư tưởng làm chủ, điều khiển, cho nên không thể nào sống trong đời sống như vậy mà tu tập được. Quý vị đang tu tập, nếu ở trong một gia đình có quá nhiều ràng buộc thì cũng rất là khó.
Kể cả một vị A la hán đã giác ngộ, đã chấm dứt hoàn toàn Vô minh, Tham Sân Si, nhưng vị đó không thể sống trong cuộc sống gia đình. Nếu vị đó còn ở lại trong gia đình, thì vị đó không có tư tưởng làm chủ, sở hữu, vị đó có thể bình an, thích nghi, nhưng những người trong gia đình vị đó vẫn có tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, là chồng mình, là cha mình,… cho nên họ vẫn có tư tưởng làm chủ, điều khiển. Vì vậy, tuy vị đó không bị ảnh hưởng, nhưng những người nhà không điều khiển được vị đó, cho nên họ sẽ rất bực bội, đau khổ. Trước kia có thể là vẫn còn đồng hành, nhưng bây giờ tư tưởng, lối sống vị đó tất cả không phù hợp với họ nữa, trái ngược với quan niệm của họ, họ không điều khiển được như trước, không phù hợp được như trước, nên họ rất đau khổ.
Một vị đạt đạo quả A la hán phải ra khỏi gia đình, sống đời sống không gia đình, đã thành cá rồi thì phải xuống nước mà sống, đó là môi trường độc lập – tự do – hạnh phúc hoàn toàn.
Quý vị quyết định ly hôn để thực hành, để có điều kiện tu tập để thay đổi cuộc đời thì cái đó cũng là tất nhiên thôi. Nếu quý vị thấy trong đời sống của mình mà có thể thay đổi để theo sự tu tập này, và những người trong gia đình quý vị không cực đoan quá, những thay đổi của quý vị dần dần cải thiện được mối quan hệ gia đình, dần dần thuyết phục được họ – với những gia đình như vậy thì vẫn cứ tiếp tục sống trong gia đình để tu tập, để giúp đỡ họ nhìn thấy một con đường tốt đẹp khác.
Câu 4: Nên hành xử như thế nào với những thân kiến của gia đình hiện tại khi họ chưa được khai thị?
Trả lời:
Nếu quý vị có Chánh kiến thì không yêu thích cũng không chán ghét cái đó, tâm bình thản, bất động trước những cái đó.
Trước kia, nếu quý vị cùng thân kiến, có những việc thân kiến, như là cúng giỗ, tảo mộ, xây lăng mộ… quý vị yêu thích cái đó, nhưng cũng có thể quý vị rơi vào duy vật cực đoan thì lại ghét những cái đó. Bát Tà Đạo thì hoặc thích, hoặc là ghét những cái đó. Thích thì tán thán, ủng hộ, đi theo; Ghét thì phản đối, xung đột.
Còn bây giờ, nếu quý vị thấy những thân kiến thì quý vị bình thản, quý vị biết đó là thân kiến, là Vô minh, Chấp ngã. Nhưng khi quý vị biết với Chánh kiến thì Chánh kiến không phát sinh thích cũng không phát sinh ghét.
Cái khác ở đây là Chánh kiến không làm phát sinh Tham Sân Si. Cho dù người ta có thể hiện là không có thân kiến thì cũng bình thản, không thích việc đó, nhưng người ta có thân kiến thì quý vị cũng không ghét, bình thản trước cái đó.
Câu 5: Giúp đỡ người khác có phải là biểu hiện của bản ngã?
Chúng ta chỉ tập trung đoạn khổ cho bản thân thôi thì có đúng không? Và việc mình làm điều tốt, mục tiêu giúp đỡ người khác như thành lập các tổ chức từ thiện thì có nên không và có phải là bản ngã không?
Trả lời:
Quý vị sẽ thấy rằng, cái cần phải thay đổi là cái Biết của mình từ Tà kiến sang Chánh kiến, thì lúc đó quý vị mới giải thích được các thắc mắc này.
Khi quý vị hiểu sai, cái Biết sai cho rằng cái khổ của mình là từ bên ngoài mà đến với mình, những hoàn cảnh đó làm mình khổ, những người đó làm mình khổ, những người kia làm mình khổ. Bây giờ quý vị sẽ thấy rằng cái khổ (tạm thời gọi là cái khổ của mình) là do nội tâm nơi mình, do Tham Sân Si nơi mình. Vậy thì bây giờ, để chấm dứt khổ thì phải giải quyết nơi tâm mình. Rõ ràng, nếu ta tạm gọi là cho mình, thì như vậy rằng tu là hết khổ cho mình chứ đâu có hết khổ cho ai được, phải không?
Như vậy, không ai làm cho mình khổ cả, chỉ có nội tâm nơi mình là Tham Sân Si thì phát sinh khổ. Vậy thì lúc đó mình sẽ thực hành để đoạn trừ Tham Sân Si, để hết khổ nơi nội tâm này. Cho nên khi hiểu như vậy, khổ khởi lên, không oán trách ai, không đổ lỗi cho ai nữa, không tức giận ai nữa, bởi vì hiểu đúng sự thật. Còn nếu không hiểu đúng sự thật, khi khổ lên thì đổ lỗi cho người này người kia, la trời trách đất, oán thán, đổ lỗi, v.v…, là do hiểu biết sai: khổ là do những đối tượng đó làm mình khổ.
Cho nên quý vị thấy, nếu xét trên phương diện nói một cách nôm na, thì quý vị chỉ có thể thực hành nơi tâm mình, đoạn trừ Tham Sân Si nơi tâm mình, làm cho mình hết khổ, chứ quý vị chẳng làm cho ai hết khổ được. Bởi vì họ khổ là do nội tâm của họ Tham Sân Si, chỉ có họ mới tự làm được, chứ không phải mình có thể làm để giúp cho họ hết khổ được. Đó là cái thứ nhất.
Thứ hai, khi lộ trình tâm là Bát Chánh Đạo thì quý vị sẽ thấy rằng, không có “Tôi”, một cái “Tôi” nào thực hành cả. Nó là vô ngã, không có cái “Ta” nào cả. Cho nên lúc đó là chấm dứt khổ do Tham Sân Si chứ không phải còn có Tà kiến “đây là Ta, kia là người”, “mình tu là hết khổ cho mình hay hết khổ cho người”. Lúc đó đâu có khái niệm “ta – người”, không có khái niệm “ta hơn, ta kém, ta bằng”. Bởi vì lúc đó không có tồn tại tư tưởng Chấp ngã, chấp rằng có một cái “Ta” đó. Như vậy, không có cái “Ta” đó thì làm gì có khái niệm “tu cho ta” hay “tu cho người”.
Còn việc giúp đỡ người khác thì quý vị phải hiểu, giúp đỡ người khác cũng do trí tuệ chứ cũng không phải do một cái “Ta” mà khởi lên. Nhưng quý vị thấy, giúp đỡ ở đây là chỉ giúp đỡ được về mặt vật chất. Và quý vị cũng hiểu rồi, nỗi khổ là do hoàn cảnh sống, do thiếu thốn vật chất chỉ chiếm tối đa 5-10% nỗi khổ của con người. Có giúp được cho họ vật chất thì cũng chỉ giúp họ giảm thiểu được 5-10% tối đa là từng đó cái khổ. Nhưng thực ra có giúp họ vật chất, họ có giảm được cái khổ này thì họ lại đổi bằng cái khổ khác thôi. Bởi vì khi giúp đỡ họ mà không có trí tuệ thì làm cho họ tham đắm, họ bám víu vào đó, họ lại càng khổ hơn.
Thế thì có giúp đỡ người khác hay không? Cái này phụ thuộc vào cái Biết. Khi thấy rằng cần phải có lời nói, hành động tử tế, thân thiện, đúng mực với những sự việc cụ thể thì có những lúc là mình sẽ giúp đỡ người khác về vật chất, tùy theo trường hợp, nhưng với trí tuệ chứ không phải với Vô minh là cho rằng, do họ khổ nên mình cho họ những vật chất này thì sẽ làm cho họ hết khổ.
Quý vị mới thấy rằng, có những lúc khi cái Biết này, Chánh kiến biết trường hợp như vậy cần thiết phải giúp đỡ về vật chất hay như thế nào, ở mức độ như thế nào để giúp cho họ giảm thiểu cái khổ thân một lúc đó thì vẫn làm việc đó nếu như mình có khả năng. Đó là biểu hiện của Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng trên Bát Chánh Đạo.
Câu 6: Nếu đoạn diệt “cái Tôi” thì làm sao con người tồn tại và sống bình thường?
Bản ngã hay cái tôi là công cụ giúp con người sống và tồn tại trong thế giới vật chất, kiếm tiền nuôi thân. Nếu đoạn diệt bản ngã thì làm sao có thể hỗ trợ cuộc sống bình thường? Sư giúp con làm rõ lại.
Trả lời:
Vô ngã là một cái rất khó hiểu đối với con người. Quý vị mới thấy, cho dù con người có Chấp ngã trên Bát Tà Đạo hay không Chấp ngã trên Bát Chánh Đạo thì mọi sự việc diễn ra vẫn là vô ngã, vẫn là không có cái Ta đó. Vẫn có lời nói, hành động, việc làm nhưng lời nói, hành động, việc làm đó là do duyên với cái Biết ý thức mà khởi lên chứ không phải là do một cái Ta nào đó làm ra.
Khi quý vị làm với tư tưởng Chấp ngã, có một cái Ta thì thực ra những hành động, việc làm đó không phải là do cái Ta đó làm, mà đó chỉ là tư tưởng Tà kiến Chấp ngã thôi, đưa đến Tham Sân Si, đưa đến khổ thôi, chứ còn mọi việc là nó vận hành vô ngã.
Quý vị hình dung thế này, bây giờ có một cái xe taxi. Có một ông lái xe thì mọi người nghĩ ông lái xe lái cái xe này là chủ nhân điều khiển cái xe này, đón khách rồi nhận tiền rồi đưa khách đi, lái xe trên đường… Những việc làm đó là do ông lái xe làm ra. Ông lái xe là chủ nhân của các việc làm đó, lái xe đi rồi làm các việc. Đó là hiểu biết thông thường của con người.
Nhưng bây giờ quý vị biết là ngày nay có xe tự lái. Xe tự lái đó bao gồm phần cứng là cấu trúc cơ khí của cái xe và phần mềm là thông tin, lập trình người ta cài đặt. Như vậy cái xe đó gồm phần cứng là phần vật chất và phần mềm là phần thông tin.
Cái xe đó giống như xe taxi, không có người lái, nó vẫn hoạt động được. Có người gọi đến thì nó trả lời rồi nó đến đón. Rồi trên đường lái thì nó lái đúng đường rồi tránh chướng ngại vật, rồi nó trả khách, rồi nó nhận tiền, v.v… Quý vị thấy, chẳng có anh lái xe nào làm ra việc lái xe rồi thu tiền các thứ phải không? Mà chỉ hoàn toàn là sự vận hành của hai phần – phần cứng và phần mềm đó thôi. Không có anh lái xe nào.
Tương tự, cơ thể của quý vị cũng như vậy, có phần cứng là phần vật chất được cấu tạo như là cái xe taxi, còn phần mềm của quý vị là có hai loại thông tin: thông tin di truyền và thông tin pháp trần. Và sự tương tác vận hành phát sinh ra lời nói, hành động, suy nghĩ, phát sinh ra hơn thua, tranh đấu, v.v… Tất cả là do vận hành của các cái đó chứ không có một cái Ta nào, không có một ông A bà B nào là chủ nhân để làm ra các lời nói, hành động đó cả.
Đây là một điều mà ngày nay có thể chứng minh rất dễ dàng.
Câu 7: Quả Vị Bất Lai, Vô Sanh, Dự Lưu, Vô Thượng Chánh Đẳng Giác phải hiểu như thế nào?
Trả lời:
Những quả này được nói đến để quý vị hiểu được mức độ khổ diệt hay khái niệm Niết bàn là như thế nào. Đương nhiên, nếu thực hành những pháp Bát Chánh Đạo, thực hành Định, Tuệ một cách chính xác thì có thể đạt đến các kết quả đó. Các quả này thực chất nói đến mức độ khổ đã được diệt trừ.
Ví dụ:
– Nếu đạt đến quả Nhập lưu, người đó đã đoạn trừ được 30% nỗi khổ của mình (giả sử toàn bộ nỗi khổ là 100%). Khi đoạn trừ được thân kiến, nghi, giới cấm thủ, những phiền não, khổ đau do đó được đoạn trừ, nó được ước tính khoảng 30%.
– Quả Bất lai chỉ cho người chấm dứt được khoảng 80% nỗi khổ, chỉ còn khoảng 20% thôi.
– A la hán thì diệt trừ được khoảng 99% nỗi khổ, chỉ còn 1% nỗi khổ thân thôi.
Đây là cách để chúng ta hiểu rằng nói đến các quả đó là nói đến các mức độ chấm dứt khổ. Tuy nhiên, quý vị cần cảnh giác với những tư tưởng phấn đấu để đạt quả thánh, bởi vì khi khởi lên tư tưởng đó là đang tu để hoàn thiện mình, và hoàn thiện mình chính là tu để tăng cường bản ngã. “Nhập lưu là hơn phàm phu, hơn người bình thường” thì đó là có “Ta hơn, Ta kém”. Phấn đấu nỗ lực để đạt “Bất lai” để hơn “Nhập lưu” là khởi lên tư tưởng “Ta hơn, Ta kém, Ta bằng”, phấn đấu cho “Ta hơn” thì đó là đang tu tập cho bản ngã.
Mục đích của quý vị tu tập là để chấm dứt khổ, là để giải thoát. Mà chấm dứt khổ thì không còn tư tưởng “Ta là” nữa. Chấm dứt khổ tức là đoạn trừ năm thủ uẩn. Đoạn trừ năm thủ uẩn là chấm dứt tư tưởng “Ta là nhập lưu, Ta là nhất lai, Ta là bất lai, Ta là A la hán”. “Ta là” là Tà kiến; “Ta không phải là” cũng là Tà kiến.
Nếu quý vị khởi lên tìm hiểu rồi khởi lên tư tưởng “Ta phải phấn đấu để Ta đạt nhập lưu”, khởi lên tư tưởng đó là “Ta là”, có “Ta là” là Tà kiến rồi.
Quý vị hiểu rằng đây là các quả vị này để chỉ cho mức độ khổ diệt (thuật ngữ Phật học gọi là Niết bàn) khi tu tập. Nếu quý vị đặt ra là “mình tối đa 7 năm nữa phải đạt đạo quả A la hán” thì đó là ước vọng tương lai rồi. Còn bây giờ quý vị phải thấy đích đến là ngay bây giờ và tại đây, khổ diệt ngay bây giờ và tại đây chứ không phải ở trong tương lai.
Khi quý vị thực hành niệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâm, niệm Pháp, nếu quý vị an trú Định, an trú Tuệ thì ngay lúc đó là quý vị đã đến đích rồi. Đó là chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây. Đích tu tập của quý vị là ở đó, chứ đừng có hướng đến cái đích là quả này quả kia ở tương lai, vì đó là vọng tưởng, gọi là ước vọng tương lai.
Bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả đã nêu lên cương lĩnh của Giáo Pháp này: “Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng. Quá khứ thì đã qua, tương lai thì chưa tới. Chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính ở đây, không động, không rung chuyển”. Tuệ quán ở đây là nói tắt nhưng ở đây là chỉ có pháp hiện tại, những gì đang xảy ra ngay trong hiện tại. Và ở đây là phải an trú các pháp đó với Tỉnh giác hoặc là Chánh kiến thì lúc đó là quý vị đến đích: Hết Khổ Được Vui ngay bây giờ và tại đây.
Câu 8: Đạo quả A La Hán và cảm giác khi sống trong hiện tại
Thưa Thiền sư, trong bốn đạo quả thầy đã ở đạo quả A La Hán chưa ạ? Thầy có thể chia sẻ cho con biết cảm giác của thầy khi sống ở thế giới trong trong giây phút hiện tại không ạ?
Trả lời:
Chuyện tôi có đạt đạo quả hay chưa đạt đạo quả A La Hán thì quý vị cũng không phải băn khoăn về điều đó. Quý vị chỉ cần khẳng định rằng Giáo Pháp này có đúng sự thật không? Phương pháp tu tập này có đưa đến Hết Khổ Được Vui liên tục và bền vững không? Hàng ngày niệm của quý vị nên là nhớ đến thực hành bốn loại Chánh Niệm, nhớ đến Tứ Niệm Xứ thôi, nhớ đến tích cực chú tâm quán sát Thân nơi Thân, Thọ nơi Thọ, Tâm nơi Tâm, Pháp nơi Pháp. Quý vị nên luôn luôn nhớ nghĩ đến chuyện đó.
Do nhớ nghĩ đến chuyện đó, quý vị sẽ tự thấy, tự biết mình đã giảm thiểu được bao nhiêu % khổ trong cuộc đời này, mình đã đoạn trừ được bao nhiêu khổ trong cuộc đời này. Cái đó là cái quan trọng nhất. Còn tôi hay ai đó có đạt đạo quả A La Hán hay không thì nó cũng không quan trọng lắm.
Thế còn quý vị hỏi là tôi hiện nay sống ra sao? Thế thì tôi trả lời với quý vị là sống vui vẻ, chết vui vẻ.
Câu 9: Nếu vô ngã, không có gì là của Ta, không có cái Ta cái Tôi nào cả, thì Ta là ai? Khi Chánh Niệm Tỉnh giác, tách ra quan sát ngũ uẩn, quan sát cảm giác nổi trội trên thân thì cái gì quan sát ạ?
Trả lời:
Câu hỏi này do Tà tư duy mà khởi lên, là tư duy trên hệ quy chiếu Vô minh, Chấp ngã. Duyên với Tà tư duy mà có Tà tri kiến là hiểu biết nhị nguyên tâm vật, có Chủ thể và Đối tượng trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Chủ thể đó là Ta hay Bản ngã không sinh diệt là CHỦ NHÂN CHỦ SỞ HỮU của tâm Biết và đối tượng được biết. Câu hỏi: nếu vô ngã, không có gì là của Ta, không có cái Ta, tôi nào cả thì Ta là ai? Câu trả lời có trong câu hỏi đó rồi. Vô ngã là Không có cái Ta, Tôi nào cả thì sao lại còn hỏi: Ta là ai?
Lúc thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức các đối tượng thì chỉ có các tâm Biết: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, tưởng thức và ý thức thấy biết các đối tượng đó, không có Tôi, Ta, ông A, bà B nào là chủ nhân của các tâm Biết đó. Các tâm Biết này là do Duyên khởi, nó vô chủ vô sở hữu, đồng nghĩa vô ngã.
Phàm phu sống với Vô minh, Chấp ngã lại cho rằng phải có một cái Ta chủ thể không sinh không diệt là chủ nhân, chủ sở hữu, điều khiển các tâm Thấy, tâm Biết đối tượng mà không biết sự thật rằng: cái Ta đó là tưởng tượng ra chứ không có thật, không hề tồn tại (vô ngã).
Câu 10: Trong Phật giáo hiện nay có tư tưởng “vô ngã vị tha”. Điều này có đúng với giáo lý Phật không?
Trả lời:
Trong cái Biết Chánh kiến hoàn toàn không có một cái Ngã, gọi là Ta; còn cái Biết Tà kiến luôn có so sánh TA với đối tượng, để thấy Ta hơn, Ta kém, Ta bằng đối tượng. Đối tượng đó là “Tha”, còn chủ thể là “Ngã”, là Ta.
Thuở xưa, khi chưa tu thì “Vị kỷ không vị tha”, tức là vì mình mà không vì người. Đây là lối sống của tâm Bát Tà Đạo, có so sánh TA với NGƯỜI; “vị kỷ không vị tha” tức là vì quyền lợi, vì niềm vui hạnh phúc của mình mà có thể tàn phá, hủy hoại người khác.
Còn “vô ngã vị tha” là lối sống ngược lại, vì người mà không vì mình, tức là vẫn trên quan điểm so sánh có TA, có NGƯỜI. Như vậy, đây vẫn là trên Bát Tà Đạo, chỉ là chuyển từ cực đoan này sang cực đoan khác thôi, chưa thoát ra khỏi tư tưởng Chấp ngã.
Vô Ngã là không có cái Ta đó, như vậy làm gì có Ta để mà so sánh với Người, để mà “vô ngã vị tha”.
Vô Ngã là không có cái Ta (Ngã) là chủ nhân, chủ sở hữu của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Một trường phái Phật giáo lớn khi dạy về Chánh trí tuệ thì hướng dẫn quán: “Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này không phải là Ta, không phải của Ta, không phải là tự ngã của Ta”. Cách quán đó vẫn là dựa trên một cái Ta, cái Ta đó không phải là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thôi, nhưng vẫn còn tồn tại cái Ta đó. Tư duy như vậy xuất phát từ cái Ta chia đôi đối tượng làm hai phần: một phần là Ta, là của Ta; một phần là không phải Ta, không phải của Ta, chưa thoát ra khỏi tư tưởng Chấp ngã. Và như vậy sẽ tư duy, suy diễn để tìm kiếm một cái Ta ngoài Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, đi tìm một cái Ta chân thực không sinh không diệt, một Chân Tâm Thường Trụ, một Bản Tánh, một Bản Lai Diện Mục không sinh không diệt, v.v..
Trong bản kinh Giới Phân Biệt, kinh 143 thuộc Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã giảng: “Ta là, là một vọng Tưởng. Ta không phải là, là một vọng Tưởng. Chấm dứt (hai) vọng Tưởng là một ẩn sĩ tịch tịnh.” Lời giảng chính xác về Vô Ngã, không còn khe hở cho suy diễn tưởng tượng là đây, phủ nhận hoàn toàn cái Ta, Bản Ngã. Ta là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là vọng tưởng điên đảo. Ta không phải là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng là vọng tưởng điên đảo. Chấm dứt cả hai tư tưởng điên đảo về cái Ta, vắng lặng tư tưởng về cái Ta là chứng đạt Vô Ngã.
Câu 11: Làm sao để bỏ một thói quen xấu?
Con đang hiểu một thói quen xấu, một tật xấu: ví dụ như lâu lâu đưa tay lên nhổ tóc, hoặc rung chân khi ngồi,.. những hành động diễn ra một cách tự động theo thói quen đã lâu. Con trải nghiệm mình muốn tác ý dừng những thói quen này lại nhưng không hề dễ.
Con muốn hỏi là: Có phải ngay khi những hành động đó diễn ra tự động như thế nghĩa là con đang quên thân nên mới vậy không? Đôi lúc con khựng lại quán sát chính cái tay mình đang nhổ tóc, thì con thấy lúc đó mình nhớ ra và tác ý dừng được hành động. Nhưng rồi trong ngày lâu lâu thói quen ấy lại lặp lại một cách tự động. Vậy làm sao để bỏ dứt điểm được những thói quen nho nhỏ như vậy? Và theo con hiểu cái thói quen kia là do một lộ trình đã khắc sâu, khiến bộ nhớ chứa toàn thói quen ấy nên mới thành khó bỏ phải không?
Trả lời:
Phải xem xét sâu xa, tận cùng cái ý muốn thay đổi những thói quen xấu phát sinh từ đâu. Nếu muốn thay đổi thói quen xấu thành thói quen tốt để trở thành một người hoàn thiện, một người gương mẫu, một người xuất sắc, một đệ tử Phật chói sáng trong cuộc đời thì đấy là tu cái cái Bản ngã vĩ đại. Còn nếu thấy cái thói quen xấu đó là do Tham Sân Si mà khởi lên thì đang làm đúng.
Tâm Bát Tà Đạo thì cho rằng thói quen đó là Ta, là của Ta cho nên muốn thay đổi thói quen xấu thành thói quen tốt thì đương nhiên cho rằng thay đổi được Ta xấu thành Ta tốt và vẫn loanh quanh nơi Bản ngã mà thôi.
Tu là đổi tâm chứ không cần đổi cảnh. Khi Niệm thân, an trú cái Thấy thuần tuý, gọi là Tỉnh giác thì chỉ Thấy việc làm đó thôi, thấy mà không suy nghĩ, không có tư tưởng việc đó là Ta làm, việc làm đó của Ta, không còn Chấp ngã, không còn tự ti hay tự cao vì cái đó thì đâu còn suy nghĩ phải thay đổi thói quen đó. Nếu thói quen đó là do Tham Sân Si mà có thì với cái Thấy thuần tuý (Tỉnh giác) không có Tham Sân Si thì thói quen đó tự diệt, đâu cần phải diệt trừ nó.
Tà kiến thì do suy nghĩ, nghĩ rằng người khác thấy thói quen này của Ta thì họ sẽ chê bai Ta, khinh thường Ta, nhưng sự thực họ nghĩ xấu hay nghĩ tốt về việc đó thì họ khổ hay vui với việc đó, chẳng liên quan gì đến Khổ Vui (của Ta), chỉ khi (Ta) suy nghĩ về họ mới phát sinh Khổ Vui nơi (Ta).
Chỉ cần thay đổi tâm THẤY và tâm BIẾT thì mọi sự sẽ tự thay đổi.
Câu 12: Nếu không thể làm chủ được bất kỳ cái gì trên đời thì mình sẽ làm gì?
Trả lời:
Quý vị chỉ cần từ bỏ tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu. Phải có hiểu biết đúng sự thật, có Minh – Trí tuệ thì mới từ bỏ được tư tưởng làm chủ, sở hữu, từ bỏ Vô minh, lúc đó là sống với Minh.
Trước kia quý vị sống với hiểu biết Vô minh, với tư tưởng làm chủ, sở hữu nên mới có sầu bi khổ ưu não. Tuy cũng có vui nhưng vui đó phải đánh đổi bằng khổ, vui đó đưa đến dính mắc ràng buộc, đưa đến khổ. Bây giờ quý vị hiểu biết sự thật, quý vị học rồi hành theo Minh, cuộc đời quý vị sẽ thay đổi, sẽ sống với Minh và sẽ nhận được kết quả là sống bởi chấm dứt khổ, bởi Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát.
Khi sống với Vô minh, quý vị vẫn có mơ ước là ”Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Cho dù có mơ ước như vậy nhưng quý vị không bao giờ đạt được độc lập, tự do hoàn toàn mà vẫn bị ràng buộc, không thể nào giải thoát. Còn bây giờ quý vị tu tập, thay đổi nhận thức thì quý vị đạt được độc lập, tự do thực sự, hoàn toàn, tuyệt đối, liên tục, bền vững, không còn dính mắc ràng buộc với bất kỳ cái gì. Và quý vị sống với hạnh phúc liên tục, bền vững – hạnh phúc của Chánh định.
Câu 13: Nếu không có tư tưởng sở hữu thì ví dụ như đồ đạc, tiền bạc bị trộm cướp mất đi thì mình phải mặc kệ cho họ lấy đi hay sao ạ?
Trả lời:
Quý vị hiểu sai rồi, chúng ta chỉ là chấm dứt cái tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu thôi, chúng ta buông bỏ tư tưởng tham ái, tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, chứ không phải là không tương tác với những thứ đó. Khi chúng ta không có tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu thì khi chúng ta có bị mất những thứ đó chúng ta cũng không đau khổ.
Đương nhiên không phải chúng ta không tương tác với những thứ đó. Quý vị cứ thực hành quý vị sẽ thấy, quý vị chấm dứt được tư tưởng sở hữu, đâu có phải quý vị bỏ cái nhà đó cho người khác ở đâu, quý vị không có tư tưởng sở hữu thì đâu phải quý vị vứt cái xe đó cho người khác muốn làm gì thì làm đâu.
Quý vị phải thực hành để ở trong cái thực hành là Tỉnh Giác hoặc thực hành Chánh Kiến – Quán Thọ, Quán Tâm, Quán Pháp lúc đó quý vị sẽ kinh nghiệm được kết quả đó rồi tự mình lý giải. Còn bây giờ tôi có giải thích quý vị cũng không thể nào hiểu được.
Tu là để buông bỏ, xả ly, đoạn diệt “TƯ TƯỞNG CHẤP NGÃ, TƯ TƯỞNG LÀM CHỦ, SỞ HỮU”. Khi đã buông bỏ, xả ly, đoạn diệt tư tưởng Chấp ngã, tư tưởng làm chủ, tư tưởng sở hữu, lúc đó Năm thủ uẩn đoạn diệt, Khổ đoạn diệt.
Ví như một người có chiếc xe ô tô hạng sang mà sống với tư tưởng “xe này là Của Ta, là Ta” thì chắc chắn sẽ sống với phiền não. Nhưng nếu người ấy sử dụng cái xe đó mà không có tư tưởng “xe này là Của Ta, là Ta” thì sẽ không còn lo lắng, phiền não kể cả khi nó nó hay mất nó. Cái xe không phải là Khổ mà tư tưởng Chấp thủ “cái xe này là Của Ta” mới khởi lên Khổ. Đây chính là điều Đức Phật thuyết giảng trong Kinh Chuyển Pháp Luân: Tóm lại Năm Thủ Uẩn là Khổ.
Thiền sư Nguyên Tuệ
