Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 10 – CHÁNH ĐỊNH VÀ TÀ ĐỊNH

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 10 – CHÁNH ĐỊNH VÀ TÀ ĐỊNH

Hỏi đáp Bài 10 – CHÁNH ĐỊNH VÀ TÀ ĐỊNH

Câu 1:  Mục đích thiền định là gì?

Trả lời:

Có hai cách hiểu hay hai quan điểm về mục đích thiền định:

* Cách hiểu thứ nhất là buộc tâm vào một đối tượng nhất định để tâm không phóng dật, không lang thang từ đối tượng này sang đối tượng kia, để đưa tâm về với thân, để tâm không trôi dạt vào quá khứ, tương lai. Đó chính là “nhất tâm trên một cảnh”. Đạt được nhất tâm cảnh để làm chủ tâm, để điều khiển tâm theo ý muốn, để đạt được những năng lực kỳ diệu, để phát sinh trí tuệ, để giác ngộ…

* Cách hiểu thứ hai là thực hành thiền định (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền) để kinh nghiệm và an trú cái Thấy thuần túy (không có cái Biết xen vào mà thuật ngữ Phật học gọi là Tỉnh giác) để chỉ Thấy mọi sự vật hiện tượng đang xảy ra mà không suy nghĩ, không tìm hiểu, không nhận xét, đánh giá đối tượng. Đó là Thấy thuần túy (tâm Biết trực tiếp giác quan) “Vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt” không làm phát sinh Tham Sân Si. Lúc đó sẽ kinh nghiệm không tham, không Sân, không Si với bất kỳ đối tượng nào và vì vậy, kinh nghiệm chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây.

Vậy mục đích của thiền định Phật giáo là để kinh nghiệm và an trú cái Thấy thuần túy (Tỉnh giác) để kinh nghiệm KHỔ DIỆT (NIẾT BÀN) ngay bây giờ và tại đây.

Câu 2:  Chánh định và hai loại chú tâm

Chánh định, sơ thiền có bao gồm hai loại chú tâm: không tầm không tứ và có tầm có tứ. Tại một thời điểm chỉ có một thứ tâm, trừ Thọ – Tưởng với Ý thức – Tư tưởng. Vậy nếu tại một thời điểm mà đang ở Sơ thiền thì chỉ có một trong hai loại chú tâm, hoặc chú tâm có tầm có tứ hoặc không tầm không tứ, hay cả hai loại đan xen cài răng lược?

Trả lời:

Chánh định là do chú tâm liên tục mới phát sinh. Khi nói chú tâm liên tục, thì có nghĩa là chú tâm từ đối tượng này sang đối tượng khác. Cho nên ở đây nói sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, thì không phải nói là một thời điểm, mà Chánh định phải diễn ra trong một khoảng thời gian nào đó. Trong khoảng thời gian đó có sự chú tâm liên tục, và trong khoảng thời gian đó có vô số lộ trình tâm, cho nên có vô số sự chú tâm nối tiếp nhau.

Ở sơ thiền thì có hai loại chú tâm: có tầm có tứ và không tầm không tứ đan xen với nhau, nối tiếp nhau, lúc đó là đạt sơ thiền. Còn khi chỉ có duy nhất một loại chú tâm không tầm không tứ liên tiếp nhau, nối tiếp nhau thì lúc đó là đạt được nhị thiền, tam thiền, hoặc tứ thiền.

Câu 3:  Nếu an trú Chánh định liên tục thì các Lạc thọ Tích cực – Vui – Thoải mái có chuyển dần sang trạng thái trung tính theo tính chất đặc thù của Thọ là Xúc nhiều thì lúc mới đầu là Lạc thọ, đến Trung tính rồi đến Khổ thọ không ạ?

Trả lời:

Các cảm giác tích cực, vui, thoải mái cũng sinh diệt liên tục. Khi Chánh định khởi lên liên tục thì tích cực, vui, thoải mái cũng khởi lên liên tục. Chứ không phải là cảm giác đó chuyển thành Trung tính hay Khổ thọ được. Lạc Thọ không thể biến thành Khổ thọ hoặc là Trung tính, mà Lạc thọ sinh lên rồi diệt, Khổ thọ cũng sinh lên rồi diệt, và Bất khổ bất lạc thọ cũng sinh diệt, chứ không có biến đổi.

Quý vị nói: “tính chất đặc thù của Thọ là Xúc nhiều thì lúc mới đầu là Lạc thọ, đến trung tính rồi đến Khổ thọ”, không phải là như vậy. Không bao giờ có Thọ nào mà lúc đầu là Lạc thọ, rồi nó chuyển qua Trung tính, rồi chuyển qua Khổ thọ. Mà quý vị phải thấy, lộ trình tâm của con người với cùng một đối tượng như vậy, lúc đầu thì Thích, rồi tiếp đến một thời gian thì Chán, thời gian nữa thì Ghét.

Ví dụ, mới đầu mua được một cái xe rất đắt tiền thì thích thú, lúc đó thấy nó là Lạc thọ, sung sướng. Tiếp một thời gian, dùng lâu rồi thì bắt đầu thấy là trung tính, không thấy là Lạc thọ nữa. Và cuối cùng, dùng mãi rồi thì đưa đến Ghét, thì khổ. Quý vị thấy, cái Lạc, Trung tính, Khổ đó là do Tham Sân Si mà khởi lên, chứ không phải cảm giác hình ảnh đó biến thành Lạc thọ, Khổ thọ, Trung tính.

Cụ thể, nhìn thấy chiếc xe đó, mắt tiếp xúc với cái xe đó thì nó vẫn như vậy, nhưng khi Thích thì phát sinh một Lạc thọ, khi Chán hoặc Ghét cái xe đó thì phát sinh Khổ Thọ. Không phải là cảm giác hình ảnh đó biến đổi, mà là lộ trình tâm phát sinh lúc thì Thích, lúc thì Chán, lúc thì Ghét đối tượng đó thôi.

Câu 4:   Các tầng thiền phát sinh là tuần tự

Khi thực hành thiền định ta có thể đạt được các mức độ sơ, nhị, tam, tứ thiền. Bắt buộc phải đạt được sơ thiền thì mới có thể đạt tới các tầng tầng thiền cao hơn. Vậy có thể nói: sơ thiền là nhân sinh ra các tầng thiền cao hơn không? Và có phải các tầng thiền phát sinh theo một lộ trình nhất định hay không? Thời gian có ảnh hưởng hay tác động gì đến việc đạt được các tầng thiền không ạ?

Trả lời:

Vào định thì cũng phải tuần tự: sơ thiền > nhị thiền > tam thiền > tứ thiền.

Nếu không có sơ thiền thì không thể vào được nhị thiền. Như vậy, sơ thiền cũng là một nhân phát sinh ra nhị thiền, rồi nhị thiền là một nhân phát sinh ra tam thiền, tam thiền là một nhân phát sinh ra tứ thiền, nó phải tuần tự như vậy. Nhưng có thể là nó lướt qua các bước đó rất nhanh chóng. Từ sơ thiền lên nhị thiền thì chỉ cần trong một nhịp thở thôi.

Cụ thể: Khi đang chú tâm cảm giác răng lưỡi, đầu tiên là phải có chú tâm có tầm có tứ, tiếp đến là chú tâm vào cảm giác thở vô, thở ra là không tầm không tứ, lúc đó là sơ thiền rồi. Khi hết cảm giác thở ra thì tự động nó bắt vào chú tâm răng lưỡi, lúc đó không hướng đến nữa, lúc đó là đã lên nhị thiền.

Từ nhị thiền lên tam thiền cũng có thể lâu, nhưng cũng có thể nhanh chóng, tùy từng người, từng lúc. Nhưng đều tuần tự. Và thời gian từ mức độ này lên mức độ kia thì không cố định, tùy từng lúc, từng người.

Câu 5:   Kinh nghiệm được hỷ lạc Chánh định nhưng vẫn chưa ly tham ái dục

Con đã kinh nghiệm được Hỷ lạc của Nhị thiền và sự thanh tịnh của Tứ thiền nhưng con cảm giác những Hỷ lạc này vẫn không mạnh bằng Ái dục, con vẫn tham ái. Cần luyện tập học + hành + thành đến mức nào thì mới có thể Ly tham ái dục?

Trả lời:

Chừng nào mà quý vị ở trong định thì lúc đó là quý vị ly tham. Khi quý vị an trú cái Thấy thuần túy thì lúc đó là ly tham. Khi quý vị an trú cái Biết, biết đối tượng đó là Cảm thọ, thì lúc đó là quý vị ly tham. Quý vị phải tu tập thường xuyên, liên tục, thuần thục, kéo dài sự liên tục ra thì quý vị mới an trú trạng thái Tâm giải thoát liên tục, lúc đó quý vị mới thấy rằng Định này rất kỳ diệu.

Cho dù quý vị ở trong sơ thiền, nhị thiền hay cái vắng lặng của tam thiền, tứ thiền, thì lúc đó ái dục không thể nào len vào được, không thể nào khởi lên ý muốn, tham dục được. Vì lúc đó tâm đâu bị phân tâm bởi những chuyện đó mà khởi lên ái dục. Còn khi ái dục khởi lên, lúc đó là quý vị bị lôi cuốn, tham đắm vào ái dục đó, lúc đó là Bát Chánh Đạo vắng mặt. Cái này quý vị từ từ thực hành, thực hành cho chuyên cần rồi quý vị sẽ kinh nghiệm được cái hỷ lạc của Chánh định rất kỳ diệu.

Những người nào lần đầu tiên kinh nghiệm được nhị thiền, kinh nghiệm được cái vui, thoải mái, tức là hạnh phúc của nhị thiền, thì đa phần đều thốt lên: từ trước đến nay chưa bao giờ kinh nghiệm được thứ hạnh phúc kỳ diệu như thế này, không có gì so sánh nổi! Nếu lần đầu tiên quý vị cảm nhận được định nhị thiền thì quý vị sẽ phát biểu như vậy. Nhưng rồi quý vị phải tinh tấn thực hành để đạt được cái gọi là Định như ý túc, tùy theo ý muốn quý vị có thể an trú định nhị thiền hay tam thiền tùy theo ý muốn, lúc đó quý vị mới thấy được hỷ lạc, hạnh phúc Chánh định thực sự kỳ diệu như thế nào.

Câu 6:   Phân biệt Tà định và Chánh định

Sư cho con hỏi: Tà định là chú tâm có tầm có tứ, có một trạng thái vui. Chánh định sơ thiền cũng có tầm có tứ và không tầm không tứ cũng có trạng thái vui. Con thấy ranh giới sơ thiền của Tà định và Chánh định khó phân biệt trong cuộc sống. Mong sư giải đáp.

Trả lời:

Quý vị phân biệt cái vui: cái vui của Chánh định là do chú tâm liên tục cảm giác toàn thân mà phát sinh. Còn cái vui của Tà định là khi thích đối tượng đó thì mới vui với đối tượng đó. Khi thích một đối tượng nào thì chú tâm liên tục vào đối tượng đó. Đó chỉ có chú tâm có tầm có tứ thôi, không có chú tâm không tầm không tứ lên thân. Và khi chú tâm liên tục vào đối tượng đó, thích thú đối tượng đó thì sẽ vui với đối tượng đó.

Quý vị thấy rằng phải phân biệt cái vui của Tà định là vui với các đối tượng bên ngoài do thích thú các đối tượng đó, còn cái vui của Chánh định thì không phải là vui với một đối tượng nào cả. Cái vui này là do chú tâm liên tục cảm giác toàn thân mà phát sinh ra.

Cho nên, phân biệt cái vui của Tà định với cái vui Chánh định là nó khác nhau. Vui Chánh định không phải là vui với một đối tượng nào cả, cái vui này là do chú tâm liên tục cảm giác toàn thân mà phát sinh. Còn vui Tà định là do thích thú đối tượng đó, vui với đối tượng ngoại cảnh đó.

Câu 7:   Cơ chế sinh học phát sinh hỷ lạc Chánh định

Thưa Sư, cơ chế sinh học phát sinh hỷ lạc của Chánh định là như thế nào ạ? Con có nghe Hỷ Lạc của Sơ thiền do ly dục sanh, nhưng chưa hiểu thật rõ cơ chế sinh học. Vì cơ chế hỷ lạc của Bát Tà Đạo thích ghét phát sinh cảm giác nơi nội tạng thì con đã được Sư giảng giải rõ rồi. Con không biết cơ chế phát sinh Hỷ Lạc của Chánh định có liên quan vùng nội tạng không, nếu có thì liên quan như thế nào?

Trả lời:

Hỷ Lạc của sơ thiền là do duyên với Ly dục, ly bất thiện pháp mà phát sinh. Ly dục, ly bất thiện pháp là vắng mặt Tham Sân Si, vắng mặt mọi tham muốn, mọi tư tưởng bất thiện thì lúc đó phát sinh Lạc và Hỷ:

– Lạc: do trước đó trên thân có Tham có Sân có Si nên có các Khổ Thọ, Lạc Thọ nhưng Khổ Thọ có thô, có vi tế, tại phần nội tạng là chủ yếu. Khi đạt sơ thiền các Khổ Thọ này chấm dứt. Sự chấm dứt Khổ thọ, căng thẳng trên thân nên cảm nhận cảm giác thoải mái. Cảm giác thoải mái đó gọi là Lạc do Ly dục sanh.

– Hỷ nhè nhẹ thỉnh thoảng khởi lên thực chất không phải do Ly dục mà thực chất cũng giống như Hỷ của nhị thiền nhưng Hỷ nhị thiền mạnh hơn. Hỷ này do chú tâm các cảm giác trên thân đặc biệt là cảm giác thở vô thở ra mạnh và thô nên cảm giác chuyển động do hơi thở gây ra tại vùng ngực, bụng, nách… đặc biệt là vùng bụng gây nên cảm giác vui đó. Đối với sơ thiền thì chú tâm chưa khít khao nên hỷ chưa mạnh, nhị thiền thì chú tâm tự động khít khao, các cảm giác vùng ngực bụng thô, mạnh nên hỷ mạnh. Lên tam thiền cảm giác thở vô ra phần ngực bụng rất nhẹ, vi tế thậm chí đôi lúc không còn cảm nhận được nên không còn Hỷ.

Nhị thiền có Hỷ Lạc do Định sanh. Hỷ như phân tích trên còn Lạc là cảm giác thoải mái dễ chịu xuất hiện trên thân do chú tâm liên tục khít khao tự động không tầm không tứ, từ đối tượng này sang đối tượng khác phù hợp với quy luật sinh diệt của đối tượng, không điều khiển, không can thiệp vào mọi cái đang xảy ra. Vì vậy mọi căng thẳng, mọi Khổ thọ chấm dứt nên cảm nhận Cảm giác thoái mái, dễ chịu mạnh. Cảm giác này xảy ra một số chỗ trên thân.

Tam thiền thì Lạc cũng giống nhị thiền mà không có Hỷ.

Tứ thiền vì cảm giác rất vi tế nên không còn Lạc do vắng lặng phần lớn cảm giác trên thân.

Ngoài hỷ lạc còn có cảm giác tích cực phát sinh trên mọi tế bào thân thể, một cảm giác phấn khởi gần giống hỷ. Cảm giác tích cực, phấn khởi phát sinh toàn thân cho dù là Tà tinh tấn hay Chánh Tinh Tấn đều giống nhau.

Câu 8:  Khi ở các tầng thiền cao hơn thì cảm thấy các sự việc xảy ra ít hơn là vì sao?

Trả lời:

Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, lúc đó phát sinh đối tượng nào thì cái Thấy đồng thời phát sinh. Còn khi quý vị chú tâm, chính chú tâm làm quý vị thấy rõ, nghe rõ hơn, cảm nhận rõ hơn. Không phải bản thân chú tâm làm cho thấy rõ, nghe rõ, cảm nhận rõ hơn, mà chính chú tâm đó tạo ra các duyên xúc, làm Căn – Trần tiếp xúc nhiều hơn nên lộ trình tâm xảy ra đối với đối tượng đó dày đặc, nên thấy, nghe, cảm nhận rõ hơn.

Khi ở tầng thiền cao thì chú tâm liên tục xảy ra nhiều ở cảm giác răng lưỡi và cảm giác pháp trần trước mặt, nó đan xen với nhau nên lúc đó chỉ có sự việc đó: cảm giác răng lưỡi và cảm giác pháp trần đan xen, còn cảm giác âm thanh, cảm giác trên thân gần như không có xúc xảy ra, chứ không phải là không thấy biết mọi sự đang xảy ra.

Cái này cũng rất vi tế: những gì được thấy, nghe, cảm nhận là do duyên xúc mà khởi lên. Không có xúc thì không khởi lên cái gì cả. Ví dụ khi ngủ tuy có 6 Trần nhưng không có 6 Căn làm việc nên không có xúc, không có gì cả, không có cái Thấy và đối tượng được thấy.

Câu 9:   Vì sao khi vào định sâu thì bớt đau?

Khi vào thiền định sâu, con kinh nghiệm là cơn đau nhức giảm dần và có lúc mất hẳn luôn. Khi con thoát thiền thì bị đau nhức trở lại. Cho con hỏi cơ chế nào làm cho cơn đau biến mất khi con vào định sâu như vậy? Làm thế nào duy trì định để cơn đau giảm thiểu tối đa?

https://www.youtube.com/watch?v=rLlqcSD2joI

Trả lời:

Khi quý vị định sâu, thì có thể là tam thiền hoặc tứ thiền. Chú tâm liên tục cảm giác toàn thân lúc đó đa phần là đan xen giữa cảm giác răng lưỡi với cảm giác pháp trần trước mặt. Nếu là tứ thiền thì đó là trạng thái vắng lặng, lúc đó cảm giác trên thân rất nhẹ, gần như không có nữa, nhiều người cảm nhận như là “mất thân”, tức là phần phía dưới cổ trở xuống là cảm giác rất nhẹ, vi tế. Vì thế quý vị kinh nghiệm định sâu thì các cơn đau hầu như không còn nữa.

Quý vị phải hiểu: nếu là một cơn đau thì các cảm giác đó thường không phải là một cảm giác liên tục mà là từng cảm giác ngắn – từng xung một, từng xung một nối tiếp nhau. Nếu các xung đó là liên tiếp, nối tiếp nhau liên tục, liên tục thì cảm giác đó rất mạnh, và thân thức ghi nhận cảm giác đó là liên tục, mạnh. Nếu khi đau thì bình thường Sân khởi lên, bực bội khởi lên, do đó chú tâm gần như chỉ vào chỗ đau thôi. Chú tâm sẽ tạo duyên xúc, xúc chỗ đó càng mạnh nên các cảm giác đau do duyên xúc đó càng khít khao, càng nhiều hơn. Càng chú tâm thì đau càng kinh khủng hơn.

Khi quý vị vào được định, chú tâm lúc đó là chạy theo vòng vô – ra – thân (cảm giác thở vô – cảm giác thở ra – cảm giác nổi trội trên thân), những cảm giác trên vòng đó rất mạnh, vậy thì cảm giác ở các nơi khác là không được chú tâm, cho nên là nó nhẹ đi. Lúc đó chú tâm vào chỗ đau ít đi, cho nên duyên xúc ít đi, cảm giác đau giảm đi. Khi định sâu thì chú tâm chủ yếu là cảm giác răng lưỡi và cảm giác pháp trần thôi, cảm giác trên thân rất nhẹ, cho nên quý vị vào định sâu là được như vậy.

Bình thường, nếu quý vị không vào được định sâu thì chuyển qua Chú tâm có tầm có tứ: lúc đó quý vị chỉ chú tâm vào cảm giác thở vô, cảm giác thở ra, hết cảm giác thở ra là quý vị hướng đến nơi răng, chú tâm theo cái vòng vô – ra – răng. Ba đối tượng đó là chính thôi: cảm giác thở vô, cảm giác thở ra, rồi cảm giác nơi răng. Cảm giác thở vô, thở ra xảy ra ở đâu cũng được, cứ để tự nhiên, nhưng hết cảm giác thở ra thì quý vị hướng chú tâm, duy trì chú tâm nơi răng: vô – ra – răng, lúc đó là quý vị vào định sơ thiền, thì lúc đó cảm giác đau cũng giảm thiểu đi nhiều.

Dân gian có câu là Đau đâu thì nghiến răng mà chịu. Tức là khi nghiến răng thì có chú tâm cảm giác nơi răng, không chú tâm vào nơi đau nữa thì cái đau giảm dần. Nhưng kinh nghiệm đó là chỉ buộc tâm vào cảm giác nghiến răng thôi. Còn quý vị thực hành định thì theo vòng vô – ra – răng, kéo dài chữ “răng” để nhớ đến duy trì chú tâm nơi răng khi hết cảm giác thở ra. Lúc đó quý vị vào sơ thiền, chính trạng thái sơ thiền này phát sinh tâm trạng tích cực, vui nhè nhẹ và thoải mái thì cơn đau cũng sẽ giảm thiểu.

Câu 10:  Có phải nhờ khổ hạnh Đức Phật mới chứng ngộ Giáo Pháp?

Con nghĩ là nhờ có sự khổ hạnh thì Phật mới có kinh nghiệm và đúc kết. Lúc thiền là lúc chiêm nghiệm, sau đó mới có thể thành Giáo Pháp rao giảng và do sự kết hợp giữa trải nghiệm khổ tận cùng với thiền thì mới có thể chứng ngộ đúng không ạ? Do con cũng trải nghiệm đau đớn thể xác tinh thần thì con thiền con mới thấm nhuần lời sư giảng. Mong sư làm rõ hơn để giúp con việc hành xác là không nên thì thiền cũng đâu phải miệt mài một ngày đêm thì mới chứng được.

Trả lời:

Rõ ràng quý vị hiểu sai hoàn toàn rồi. Giống như một số người nói là phải Khổ đến tận cùng thì lúc đó mới giải thoát được. Khổ đến tận cùng thì càng nhận chìm người đó. Và khi khổ tận cùng không chịu đựng được thì tự sát thôi chứ làm sao mà giải thoát được?

Khổ hạnh không bao giờ đưa đến giải thoát cả. Quý vị thấy trong kinh điển có rất nhiều chỗ nhắc đến thế này: Phải chứng ngộ Tứ Thánh Đế với lạc và hỷ chứ không thể nào chứng ngộ Tứ Thánh Đế với khổ và ưu. Và kinh còn giải thích rõ ràng, nếu chứng ngộ Tứ Thánh Đế với khổ và ưu thì chỉ cần buổi sáng đánh cho 300 hèo, buổi trưa đánh cho 300 hèo, buổi chiều đánh cho 300 hèo thì đủ cái khổ và ưu để chứng ngộ.

Nếu với khổ tận cùng mà có thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế thì như kinh đã nói, quý vị cần gì phải tu tập thiền, quý vị cần gì tu tập định, tu tập tuệ, chỉ cần buổi sáng đánh cho 300 hèo, buổi trưa đánh cho 300 hèo, buổi chiều đánh cho 300 hèo, tan xương nát thịt như vậy là chứng ngộ Tứ Thánh Đế thôi.

Cho nên quý vị mới thấy, trong lịch sử Đức Phật đã mô tả rằng sáu năm khổ hạnh rừng già chịu biết bao nhiêu cay đắng… Khổ đến tận cùng, chịu đựng Khổ đến tận cùng Đức Phật mới thấy nó vô ích. Cho nên Ngài mới từ bỏ nó.

Khi Ngài từ bỏ nó rồi ăn uống trở lại khỏe mạnh thì đêm đó Ngài mới tìm một con đường khác. Khi Ngài nhớ được sơ thiền thì Ngài vào được sơ thiền, với hỷ lạc của sơ thiền, rồi nhị thiền, tam thiền, với hỷ lạc của nhị thiền, tam thiền. Thì quý vị mới thấy, phải có hỷ lạc đó rồi đạt đến tứ thiền, rồi Chánh tư duy thì lúc đó mới đạt đến hiểu biết đúng sự thật, mới giác ngộ Tứ Thánh Đế.

Cho nên giác ngộ Tứ Thánh Đế với lạc và hỷ chứ không phải chứng ngộ Tứ Thánh Đế với khổ và ưu. Hành xác, khổ hạnh không bao giờ đưa đến giác ngộ cả. Kể cả bây giờ người ta truyền bá, nói có 13 hạnh đầu đà, nhưng sự thật Đức Phật đã từ bỏ khổ hạnh đó rồi. 13 hạnh đầu đà chỉ xuất hiện sau này do ám ảnh từ Bà Là Môn, vì chủ trương của Bà La Môn là khổ hạnh, lúc đó người ta đưa vào chứ hoàn toàn không có trong Giáo Pháp.

Để lại một bình luận