Hỏi đáp Bài 9 – CHÁNH NIỆM – TỈNH GIÁC
Câu 1: Chánh Niệm có phải là ghi nhận không?
Trả lời:
Chánh Niệm không phải là ghi nhận hiện tượng mà Chánh Niệm về thân là: NHỚ ĐẾN TÍCH CỰC CHÚ TÂM GHI NHẬN Cảm giác toàn thân. Chánh Niệm là TRÍ NHỚ CHÁNH chứ không phải Ghi Nhận. Nhờ có Chánh Niệm như vậy liên tục khởi lên mà sẽ phát sinh tâm hành TÍCH CỰC, nhờ tâm hành Tích cực mà phát sinh CHÚ TÂM LIÊN TỤC các Cảm giác toàn thân (Chánh định). Nhờ CHÚ TÂM LIÊN TỤC (CHÁNH ĐỊNH) mà chỉ còn tâm Biết trực tiếp Tưởng (tâm ghi nhận) GHI NHẬN đối tượng không có tâm Biết ý thức (tâm nhận thức). Lúc này chỉ có SỰ GHI NHẬN thuần túy không có tâm ý thức khởi lên nên không suy nghĩ, không nhận xét đánh giá đối tượng. Sự GHI NHẬN THUẦN TÚY KHÔNG CÓ TÂM Ý THỨC gọi là TỈNH GIÁC. Lúc đó Thấy chỉ là Thấy, Nghe chỉ là Nghe, Cảm nhận chỉ là Cảm nhận, không nhận xét, đánh giá, không thích ghét đối tượng.
Lộ trình tâm Bát Chánh Đạo đó gồm: Xúc – [Thọ – Tưởng] – Chánh Niệm – Chánh Tinh Tấn – Chánh Định – (Tỉnh Giác).
Cảm giác toàn thân là hiện tượng đang xảy ra. Và Chánh Niệm về thân là Nhớ đến tích cực chú tâm ghi nhận cảm giác toàn thân. Kết quả của Chánh Niệm về thân là phát sinh: Tích cực chú tâm, phát sinh Chú tâm liên tục cảm giác toàn thân (Chánh định), phát sinh Tỉnh giác (Ghi nhận thuần túy) các hiện tượng đó.
Chánh Niệm hay Trí nhớ Chánh có 4 loại, là NHỚ ĐẾN TÍCH CỰC CHÚ TÂM QUÁN SÁT THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP để thấy biết các sự vật hiện tượng bởi Tỉnh giác và Chánh kiến. Chỉ có Chánh Niệm về thân Ghi nhận đối tượng gọi là Tỉnh giác, không nhận xét đánh giá đối tượng. Còn Chánh Niệm về Thọ, Tâm, Pháp thì Biết đối tượng bởi ý thức Chánh kiến vẫn nhận xét, đánh giá đối tượng nhưng nhận xét đánh giá bởi Chánh kiến, bởi Trí tuệ nên không thích ghét đối tượng.
Câu 2: Thực hành Tỉnh giác thì làm sao mà Tư duy?
Trong lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, hiện tại con đang tu tập và cảm nhận đến phần Tỉnh giác. Nhưng con không hiểu, nếu Tỉnh giác vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt, không có ngôn từ, không có phân biệt thì làm sao mà tư duy được ạ?
Trả lời:
Quý vị sẽ thấy rằng khi quý vị thực hành ở đây là để quý vị kinh nghiệm được Tỉnh giác khi tọa thiền, thiền hành và trong cuộc sống. Cái Biết Tỉnh giác này không có khái niệm, không có ngôn từ, không có phân biệt. Cái Biết Tỉnh giác này không đưa đến phát sinh lời nói, hành động.
Quý vị hình dung giống như một đứa trẻ mới đẻ ra tức thì, nó vẫn thấy, nghe, cảm nhận mọi đối tượng và nó chỉ có cái tâm Biết trực tiếp giác quan, còn tâm Biết ý thức, tư duy, suy nghĩ chưa khởi lên. Cho nên, nó vẫn thấy, nghe, cảm nhận mọi đối tượng nhưng không đưa đến lời nói, hành động nào cả.
Tâm Biết Tỉnh giác này cũng tương tự như vậy. Nó không đưa đến lời nói, hành động. Và vì tâm Biết Tỉnh giác này không đưa đến thích ghét, không đưa đến lời nói, hành động, cho nên không có dính mắc, ràng buộc, không có Khổ Vui với đối tượng nào. Lúc đó là quý vị kinh nghiệm giải thoát.
Khi quý vị thực hành niệm Thân này, có thể không phải 100% lộ trình tâm của quý vị là Tỉnh giác, mà có khoảng 90% lộ trình tâm dừng lại ở tâm Biết Tỉnh giác, và còn có những lộ trình tâm là vẫn có suy nghĩ, vẫn có tâm Biết ý thức khởi lên, nhưng nó rất ít, chỉ khoảng 10%.
Và khi làm việc, đi đứng nằm ngồi thì 10% lộ trình tâm có tâm Biết ý thức đủ cho quý vị tác ý làm việc, nấu ăn, ăn uống… 10% này là vừa đủ. Còn 90% lộ trình tâm dừng lại ở Tỉnh giác. Và quý vị kinh nghiệm được rằng 90% lộ trình tâm này là không có Khổ Vui, vắng lặng. Còn 10% lộ trình tâm, nếu như chưa phải là quán Thân, quán Thọ, quán Tâm, quán Pháp, nếu như là người bình thường, thì 10% đó vẫn là Bát Tà Đạo. Giả sử 10% đó vẫn có Khổ Vui, nhưng 90% không có Khổ Vui là áp đảo.
Quý vị mới kinh nghiệm được rằng con người sống hàng ngày chỉ cần 10% lộ trình tâm có suy nghĩ, có ý thức là đủ sống, đủ để làm việc. Còn 90% lộ trình tâm khởi lên của con người bình thường thì có cả ý thức, 90% cái suy nghĩ đó là linh tinh, là vô ích, là đưa đến phiền não, đưa đến khổ.
Khi quý vị tu tập Chánh Niệm về Thọ, Tâm, Pháp, quý vị sẽ thay đổi luôn tâm Biết ý thức Tà kiến thành Chánh kiến. Tức là lúc đó, khi quý vị Chánh Niệm Thọ, Tâm, Pháp, thì cả 100% lộ trình tâm của quý vị là hết khổ.
Câu 3: Chứng được Niết bàn nhưng tại sao vẫn thấy đau?
Tại sao khi tọa thiền, con chứng được Niết bàn mà vẫn cảm thấy đau? Vì con bị bệnh xương khớp, con vẫn nuốt nước bọt và con vẫn chói mắt và vẫn thay đổi thế ngồi.
Trả lời:
Quý vị thắc mắc như vậy vì quý vị nghĩ rằng, đã chứng Niết bàn thì không còn đau, không còn nuốt nước bọt, không còn chói mắt, không phải thay đổi thế ngồi. Bài này tôi đã giảng vào sáng thứ 3, Giáo Pháp mà Đức Thế Tôn thuyết giảng có hai điều rất khó lĩnh hội, đó là định lý Duyên khởi và Niết bàn.
Cái khó lĩnh hội về Lý duyên khởi là do con người hiểu sai, hiểu một nhân sinh quả, nhân nào quả nấy… mà sự thật, quy luật nhân quả hay Lý duyên khởi là hai nhân tương tác với nhau cùng diệt mới phát sinh một hay nhiều quả. Con người bị ám ảnh, mặc định quy luật nhân quả là một nhân sinh quả, nhân biến đổi thành quả, nhân nào quả nấy… cho nên họ không thể nào nghe về Lý duyên khởi mà lĩnh hội được.
Cái khó lĩnh hội thứ hai là Niết bàn. Vì sao? Niết bàn là gì? Niết bàn là kinh nghiệm được đoạn tận Tham, đoạn tận Sân, đoạn tận Si. Không có Tham, Sân, Si tức là không có khổ. Kinh nghiệm Niết bàn là kinh nghiệm khổ diệt, kinh nghiệm là không có Tham Sân Si. Tà kiến thì cho rằng Niết bàn là một nơi cực lạc, là sung sướng tuyệt đối, là phúc lạc toàn vẹn pháp hỷ sung mãn, cho nên bây giờ nói Niết bàn là trống không thì không ai chấp nhận cả, không ai hiểu được cả.
Quý vị thấy, Niết bàn là không, gọi là vô vi. Khi nào biết rõ không có Tham, không có Sân, không có Si thì lúc đó biết rõ là không có khổ, hay biết rõ khổ diệt. Biết rõ cái không đó gọi là biết rõ Niết bàn. Quý vị hình dung thế này: Ví dụ tôi giơ cái này lên, quý vị thấy trên tay tôi có cái cốc, quý vị biết đối tượng trên tay tôi là cái cốc. Ý thức biết về đối tượng được biết là có cái cốc, cho nên cái cốc này gọi là pháp hữu vi, là có. Còn bây giờ tôi giơ cái tay này lên, bây giờ quý vị biết: biết trên tay sư Nguyên Tuệ là không có cái cốc, cái Biết (tâm Biết ý thức) và đối tượng được biết là không có cái cốc. Đối tượng được biết: không có cái cốc được gọi là không, hay còn gọi là vô vi.
Quý vị phân biệt: khi lộ trình tâm là Bát Tà Đạo, ý thức biết là có thích có chán có ghét, và biết là có khổ có vui. Cái Biết là tâm Biết ý thức, còn đối tượng được biết đó là thích chán ghét (hay Tham Sân Si) và Khổ Vui. Tham Sân Si, Khổ Vui là có, gọi là pháp hữu vi. Khi quý vị thực hành cái Thấy thuần túy chẳng hạn, lúc đó quý vị biết rõ không có thích chán ghét đối tượng nào, không có khổ với đối tượng nào, thì cái Biết đó là tâm, đối tượng được biết đó là KHÔNG. Không gì? Không Tham không Sân không Si, không Khổ. Thì cái Biết như vậy gọi là biết rõ Niết bàn.
Chứ còn cảm giác đau nơi chân hay nuốt nước bọt hay đổi tư thế, đó là các pháp hữu vi, đó đâu phải là Niết bàn. Niết bàn là cái không đó – không Tham không Sân không Si, không khổ. Khi nào quý vị kinh nghiệm được cái KHÔNG đó, tức là quý vị kinh nghiệm Niết bàn. Phải hiểu Niết bàn như vậy.
Câu 4: Làm thế nào để phân biệt Chánh Niệm và Tỉnh giác một cách rõ ràng để không nhầm lẫn?
Trả lời:
Quý vị phải hiểu được các khái niệm này:
Chánh Niệm là trí nhớ Chánh, chẳng hạn: nhớ đến tích cực chú tâm liên tục cảm giác toàn thân, nhớ đến cắn chặt răng, ngậm chặt lưỡi, nhớ đến nhìn thấy cảm giác hình ảnh theo nhịp thở, cảm nhận cảm giác toàn thân theo nhịp thở. Đó là Trí nhớ, là Chánh Niệm.
Và do Chánh Niệm đó mới có sự chú tâm liên tục cảm giác toàn thân, do chú tâm liên tục cảm giác toàn thân, quý vị mới kinh nghiệm được cái Thấy thuần túy, Thấy mà không suy nghĩ, Thấy mà không tìm hiểu, nhận xét, đánh giá đối tượng, tức là Thấy mà không có cái Biết xen vào. Thì cái Thấy đó gọi là Tỉnh giác.
Như vậy, Chánh Niệm là tâm hành, Tỉnh giác là tâm Thấy. Hai cái này phân biệt rõ ràng: Chánh Niệm là trí nhớ, nhớ đến tích cực chú tâm theo dõi cảm giác toàn thân chẳng hạn, Chánh Niệm đó đưa đến sự chú tâm liên tục. Chính sự chú tâm liên tục mới tách cái Thấy ra khỏi cái Biết, để quý vị kinh nghiệm cái Thấy thuần túy, cái Thấy thuần túy đó gọi là Tỉnh giác.
Câu 5: Có phải khi đạt vào cảnh giới Niết bàn là đã hết tu tập Bát Chánh Đạo không?
Trả lời:
Làm gì có cảnh giới Niết bàn để mà đạt? Quý vị đã học điều này rồi nhưng chưa nhớ. Cái khó nhất là Giáo Pháp này có hai điều rất khó lãnh hội: Niết bàn và Lý duyên khởi.
Niết bàn bây giờ gần như giới Phật giáo hiểu sai hoàn toàn, hiểu là có một cái cảnh giới nào đó gọi là Niết bàn. Đó là hiểu sai hoàn toàn rồi. Niết bàn được định nghĩa là: khi có Tham Sân Si thì có khổ, khi không có Tham Sân Si thì không có khổ. Không có Tham Sân Si, không có khổ thì đó gọi là Niết bàn. Niết bàn là “không có” (Tham Sân Si, Khổ), chứ đâu phải là có một cái cảnh giới nào đó. Có Khổ, có Tham Sân Si thì gọi là hữu vi, còn không có Tham Sân Si, không có Khổ thì gọi là vô vi, và vô vi đó gọi là Niết bàn.
Quý vị hình dung, nếu bây giờ quý vị đau bụng là quý vị có khổ. Cái Biết của quý vị biết rõ rằng đang khổ, đang có khổ. Nhưng đến một lúc (chẳng hạn một tiếng đồng hồ sau) hết đau bụng thì lúc đó quý vị có biết là hết khổ không? Quý vị biết là hết khổ phải không? Như vậy là biết hai đối tượng: biết có khổ và biết hết khổ (không có khổ). Hết khổ đó gọi là Niết bàn.
Và quý vị hình dung, bây giờ quý vị đang có rất nhiều cái khổ: sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cầu mong cái gì mà không được là khổ, oán ghét nhau mà phải gặp nhau là khổ, yêu thương nhau mà phải biệt ly nhau là khổ, v.v… Quý vị thấy mình đang còn nhiều cái khổ. Ví dụ như vợ chồng tức giận, cãi nhau mà phải sống chung một nhà, khi đang tức giận đó thì khổ. Kể cả con cái tức giận với bố mẹ mà phải sống chung, lúc đó cũng khổ. Rồi ai yêu quý con chó cảnh hàng ngày mà bỗng nó mất đi, có phải là khổ không?
Quý vị thấy con người bình thường đang có rất nhiều cái khổ. Và quý vị biết cái khổ đó giống như biết cái khổ khi đau bụng. Biết có khổ. Nhưng bây giờ cái khổ của đau bụng hết thì quý vị cũng biết. Và giả sử tất cả mọi cái khổ của quý vị trong đời này cũng đều hết đi, thì quý vị cũng biết chứ, phải không? Khi tất cả mọi cái khổ của quý vị hết đi, đó gọi là quý vị biết rõ Niết bàn, chứ không phải Niết bàn là một cái cảnh giới nào đó, ở đâu đó.
Rất nhiều người bây giờ dùng từ “Phật nhập Niết bàn”. Phật nhập Niết bàn như vậy là Niết bàn ở một chỗ nào đó rồi Phật nhập vào đó. Đó là hiểu sai. Cái từ đúng là gì? “Phật là vô dư Niết bàn” hay “Phật đã Niết bàn rồi”. Chứ không phải “Phật nhập Niết bàn”. Nếu nói Phật nhập Niết bàn thì tương tự như nói “Phật đạt đến một cái cảnh giới nào đó, cảnh giới Niết bàn”. Đã là cảnh giới tức là phải có nơi chốn.
Câu 6: Kinh nghiệm trạng thái Tỉnh giác
Con xin hỏi thiền sư, lúc con hành thiền được vài vòng thì con cảm nhận bàn chân con như lần đầu được bước đi trên mặt đất và con bật khóc vô thức vì điều đó. Con nhìn những bước chân trên nền nhà như lần đầu tiên con thấy chúng và con đi những bước vững chãi hơn. Vì sao con có cảm giác này?
Trả lời:
Quý vị thấy rằng đây là lần đầu tiên quý vị cảm nhận được cái Thấy thuần túy. Lúc đó, quý vị không phân tâm, đạt được sơ thiền, an trú cái Thấy thuần túy, cảm nhận cảm giác bước chân thuần túy thôi, không có cái Biết ý thức xen vào. Lúc này, thân thức ghi nhận cảm giác đó thuần túy. Đây ta gọi là cái Thấy thuần túy, thấy mà không suy nghĩ.
Cái Thấy này chỉ xuất hiện một lần duy nhất. Khi chân tiếp xúc với đất, phát sinh cảm giác đó, đồng thời phát sinh thân thức thấy cảm giác đó. Sau đó, cảm giác này diệt và không còn đâu nữa. Đến lần tiếp theo, cũng cái chân đó tiếp xúc với đất lần thứ hai, cũng phát sinh cảm giác đồng thời phát sinh cái Thấy thân thức ghi nhận cảm giác đó. Nhưng cảm giác lần thứ hai này hoàn toàn không phải cảm giác lúc trước nữa. Hai cái này hoàn toàn khác nhau.
Khi đó, tâm Biết ý thức không khởi lên, nên thân thức – cái Thấy của lần trước ghi nhận cảm giác đó đã diệt đi rồi, không còn nữa. Nhưng cái Thấy thân thức lần thứ hai này, thấy cảm giác này, hoàn toàn mới mẻ chứ không phải lặp lại cái cũ. Cho nên, quý vị mới cảm nhận nó mới mẻ, tinh khôi, bởi vì nó không lặp lại một cái gì của cái trước cả. Nó có thể tương tự, cũng được mô tả là cảm giác do chân phải chạm đất rồi thân thức, nhưng cái thứ hai này hoàn toàn khác cái thứ nhất, không phải là lặp lại cái thứ nhất. Cho nên cái thứ hai này, như quý vị mô tả, quý vị cảm nhận nó rất mới mẻ, rất tinh khôi là vì vậy.

