Trí tuệ theo nghĩa gốc của Phật học là nhận thức hay hiểu biết ĐÚNG SỰ THẬT gồm có 3 cấp độ: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
* VĂN TUỆ là Hiểu biết đúng sự thật do nghe giảng hay đọc kinh điển mà có, nó sẽ được lưu vào bộ nhớ dưới dạng thông tin được mã hoá.
* TƯ TUỆ là hiểu biết đúng sự thật do Tư duy về Văn tuệ đã được lưu giữ trong bộ nhớ để hiểu biết đó sâu sắc và rộng lớn hơn và để kích hoạt các thông tin Văn tuệ trong bộ nhớ cho nổi bật hơn các loại thông tin khác.
* Cuối cùng là TU TUỆ, là Trí tuệ, là hiểu biết đúng sự thật khởi lên khi thực hành Tứ niệm xứ.
Thực hành Tứ niệm xứ theo nghĩa tiếng Việt là RÈN LUYÊN BỐN LOẠI TRÍ NHỚ CHÁNH hay Bốn loại Chánh niệm về Thân Thọ Tâm Pháp. Nội dụng của 4 loại Trí nhớ chánh này là: Quán THÂN nơi Thân, THỌ nơi Thọ, TÂM nơi Tâm, PHÁP nơi Pháp với chánh niệm, nhiệt tâm (tích cực), Tỉnh giác để nhiếp phục tham ưu ở đời.
Tại sao không nói Quán Thân, Quán Thọ, Quán Tâm, Quán Pháp mà lại nói Quán Thân nơi thân, Thọ nơi thọ, Tâm nơi tâm, Pháp nơi pháp?
Là để nhấn mạnh, để phân biệt giữa 3 loại trí tuệ, đặc biệt là để phân biệt giữa Văn tuệ và Tư tuệ với Tu tuệ, là trí tuệ phát sinh khi thực hành. Và để phân biệt Văn tuệ và Tư tuệ thuộc về Bát chánh đạo hiệp thế, làm công tác chuẩn bị, là điều kiện để cho Tu tuệ phát sinh nơi Bát chánh đạo siêu thế.
Cụ thể là Văn tuệ và Tư tuệ có được là do Nghe giảng và Tư duy về điều được nghe, lúc đó phải HÌNH DUNG ra các pháp đó để mà hiểu biết. Các pháp đó được hình dung ra hay nhớ lại chứ các pháp đó KHÔNG HIỆN HỮU, không có mặt lúc đó.
Quán thân nơi thân, thọ nơi thọ, tâm nơi tâm, pháp nơi pháp ám chỉ QUÁN SÁT TRỰC TIẾP pháp đó khi nó có mặt, khi nó hiện hữu chứ không phải nhớ lại, hình dung ra nó như khi nghe giảng hoặc tư duy.
Trí tuệ gọi là Tu tuệ khi hành Tứ niệm xứ là gì?
01- Khi thực hành Niệm Thân
Thực hành Niệm Thân là Nhớ đến tích cực chú tâm ghi nhận cảm giác toàn thân thì kinh nghiệm được, hay nhận thức được có SỰ GHI NHẬN thuần tuý từ đối tượng này sang đối tượng khác mà không tìm hiểu, không nhận xét đánh giá đối tượng. Lúc đó chính là Ý thức Chánh kiến khởi lên, hiểu biết đúng sự thật về Sự Ghi Nhận thuần tuý gọi là Tỉnh giác. Đây chính là nội dung của Ý thức Chánh kiến và gọi là Tu tuệ, là Tuệ tri Tỉnh giác khi Tỉnh giác đang có mặt, đang hiện hữu.
Không những Tuệ tri đó là Tỉnh giác mà còn Tuệ tri Tỉnh giác có tính chất Vô niệm, Vô ngôn, Vô phân biệt.
Ví như khi Thấy hình ảnh (cành cây) thì Ý thức Chánh kiến khởi lên biết đúng sự thật, chỉ có Sự Ghi nhận thuần tuý đối tượng, Ý thức về đối tượng đó không khởi lên biểu hiện là không tìm hiểu, không nhận xét, không đánh giá đối tượng. Ý thức Chánh kiến còn biết đúng sự thật, không có Ý thức về đối tượng được thấy, biểu hiện là chỉ có sự Ghi Nhận đối tượng mà không khởi lên đó là cây, không có từ cây, không nhận xét cây đẹp hay xấu, không phân biệt so sánh với những cái cây khác. Đó chính là Tỉnh giác, cái thấy vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt.
Không những vậy mà còn Tuệ tri có Sự Chú Tâm Liên Tục từ đối tượng này sang đối tượng khác với hai loại chú tâm có tầm có tứ và không tầm không tứ; Tuệ tri sự chú tâm liên tục phát sinh Chánh định; Tuệ tri đây là sơ thiền hay nhị thiền, hay tam thiền tứ thiền; Tuệ tri vô thường, vô chủ vô sở hữu; Tuệ tri Khổ diệt (Niết bàn); Tuệ tri Tâm giải thoát…
Đây chính là Nhận thức Chánh kiến, là Trí tuệ, là Tuệ tri hay Tu tuệ khi hành Tứ niệm xứ.
02- Đối với Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp cũng tương tự như vậy.
Trí tuệ là Tu tuệ này khởi lên khi hành giả đối mặt với cuộc sống thật, dùng cho cuộc sống thật, là một lối sống với Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát với điều kiện là NHỚ ĐƯỢC Văn tuệ (đã học) tức là phải có Chánh niệm.
Vì vậy để Tu tuệ khởi lên và do Tu tuệ sẽ sống với Tâm giải thoát Tuệ giải thoát thì phải có Chánh niệm (Trí nhớ chánh) NHỚ ĐƯỢC Văn tuệ đã học. Và để NHỚ ĐƯỢC Văn tuệ đã học thì phải học, phải nghe giảng những KIẾN THỨC ĐÚNG SỰ THẬT mà Đức Phật đã khám phá ra và phải Tư duy về điều đó để kích hoạt làm cho thông tin đó nổi bật nhất trong bộ nhớ.
Điều này khẳng định rằng: không thể có trí tuệ là Tu tuệ xảy ra trong cuộc sống, trong các tình huống cuộc sống nếu không có Văn tuệ và Tư tuệ. Và còn khẳng định rằng: không phải ĐỊNH PHÁT SINH RA TUỆ mà TUỆ xảy ra theo lộ trình Văn – Tư – Tu. Đây là điều cần phải nhận thức đúng, ghi nhớ và tuân thủ.
Khi Tu tuệ xuất hiện trên lộ trình tâm là Bát chánh đạo siêu thế thì thông tin Tu tuệ sẽ được lưu vào bộ nhớ và nó sẽ “sâu sắc, vững chắc và nổi bật” hơn Văn tuệ. Và do nhiều lần và nhiều lần như vậy mà HIỂU BIẾT ĐÚNG là Tu tuệ, là Minh này sẽ “xoá bỏ” HIỂU BIẾT SAI, là Vô minh trong bộ nhớ.
Ví dụ: trước đó hiểu biết rằng thực hành để quán sát, để thấy rõ HƠI THỞ vô ra, biết tôi đang thở vô hay đang thở ra, biết hơi thở vô ra dài hay ngắn, biết thân của hơi thở đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối… Đây chính là vô minh đã lưu giữ trong bộ nhớ. Khi thực hành Niệm thân, Tuệ tri đối tượng được ghi nhận là Cảm giác thở vô, Cảm giác thở ra do Hơi thở không khí TƯƠNG TÁC với Thân căn mà phát sinh, tuệ tri nó là Tâm chứ không phải Vật chất (hơi thở không khí), tuệ tri nó Vô thường, Vô chủ sở hữu… thì dần dà Tu tuệ này sẽ xoá bỏ được Vô minh trên. Lúc chưa xoá bỏ Vô minh hoàn toàn thì có những lúc vẫn dùng ngôn từ mô tả theo kiểu vô minh là CHÚ TÂM THEO DÕI HƠI THỞ VÔ RA nhưng khi Tu tuệ, Minh đã xoá Vô minh hoàn toàn thì không bao giờ nhầm lẫn khi mô tả, mà sẽ luôn dùng từ CHÚ TÂM THEO DÕI CẢM GIÁC THỞ VÔ, CẢM GIÁC THỞ RA.

