TỪ BI

TỪ BI
Trí Tuệ và Từ Bi là hai khái niệm phổ biến trong Phật Giáo nhưng nội dung của khái niệm Trí Tuệ và Từ Bi lại được hiểu theo hai cách khác nhau. Một là hiểu biết sai lạc, gọi là vô minh về Từ Bi và Trí Tuệ , là do Phàm phu suy diễn, tưởng tượng dựa vào tri thức, hiểu biết sai lạc. Hai là hiểu biết đúng sự thật, gọi là Minh của bậc Thánh hữu học và vô học do nghe giảng và tu tập mà thân chứng được. Trong Kỳ Na Giáo ( còn gọi là Ni kiền tử, đạo Jin, đạo Loã thể ) cũng đề cao Trí Tuệ và Từ Bi, họ từ bỏ tất cả mọi sở hữu, kể cả không sử dụng quần áo mà loã thể, chỉ mang theo bên mình hai thứ duy nhất, đó là một cuốn sách tượng trưng cho Trí tuệ và một cái chổi để quyét sạch côn trùng, không dẫm đạp vào côn trùng trong mỗi bước đi là tượng trưng cho Từ bi ( quý vị có thể tham khảo trên mạng để thấy hình ảnh của đạo Loã thể hiện nay đang tồn tại ở Ấn độ ). Tuy họ cũng đề cao Trí tuệ và Từ bi như vậy nhưng khái niệm, cách hiểu về Trí Tuệ và Từ Bi của họ lại hoàn toàn khác với Trí Tuệ và Từ Bi mà các bậc Thánh Phật Giáo đã thân chứng.
Từ bi là lòng thương cảm của bậc Thánh đối với chúng sinh đang đắm chìm trong đau khổ vì Vô Minh và Tham ái.Đối với kẻ Phàm phu, nhiều người cũng có lòng thương cảm đối với chúng sanh đang ở trong những hoàn cảnh đớn đau, tuyệt vọng, tồi tệ nhưng đó không phải là Từ Bi. Vậy thì có gì khác nhau trong Thương Cảm của bậc Thánh và Phàm phu ?
Thương cảm của bậc Thánh được gọi là Từ Bi phát sinh trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo siêu thế, cụ thể là do Ý thức Chánh Tri Kiến hiểu biết như thật về Khổ Tập Diệt Đạo. Đó là Khổ bao gồm Hoại Khổ, Khổ Khổ, Hành Khổ và Nguyên nhân Khổ là Vô Minh và Tham Ái thuộc về Nội Tâm phát sinh trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo của Phàm phu chứ không phải nơi Ngoại Cảnh.
Ý thức Chánh Tri Kiến như vậy sẽ phát sinh lòng Thương Cảm đối với tất cả chúng sinh không phân biệt giàu nghèo, gái trai, ngu trí, sang hèn, chủng tộc, tôn giáo, vì tất cả không trừ một ai đều đang đau khổ, đều bình đẳng về khổ ( ngoại trừ các bậc Thánh ). Ý thức Chánh Tri Kiến là sự thấu đạt Vô Ngã, nên Thương Cảm như vậy không có Ta, không có một Bản Ngã nào là chủ nhân, chủ sở hữu của Thương Cảm. Đối tượng của Thương Cảm là Vô minh và Tham ái của chúng sanh chứ không phải Thương Cảm hoàn cảnh nghèo khó, tồi tệ, tuyệt vọng của chúng sanh. Thương Cảm của bậc Thánh như vậy, sẽ phát sinh sự giúp đở chúng sinh Học, Hiểu và Thực Hành Bát Chánh Đạo để đoạn trừ Vô minh và Tham Ái chứ không phải giúp cho chúng sinh thay đổi Hoàn Cảnh sống.
Thương Cảm của Phàm phu phát sinh trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo, cụ thể là do Ý thức Tà Tri Kiến, hiểu biết sai lạc về Khổ Tập Diệt Đạo. Đó là Khổ, Nguyên nhân Khổ, Sự chấm dứt Khổ đều thuộc về ngoại cảnh, thuộc về Hoàn cảnh sống và Con đường chấm dứt Khổ là thay đổi Cảnh, thay đổi Hoàn cảnh sống. Thương Cảm đó có một cái Ta, có một Bản Ngã là chủ nhân, chủ sở hữu Của hành vi Thương Cảm. Ý thức Tà Tri Kiến so sánh Ta ( Bản Ngã ) với đối tượng và hiểu biết Ta hơn, Ta kém hoặc Ta bằng đối tượng và Thương Cảm chỉ phát sinh khi biết Ta hơn đối tượng . Thương Cảm không bao giờ phát sinh đối với đối tượng hơn Ta : hoàn cảnh tốt đẹp hơn Ta, giàu có hơn Ta, thành đạt hơn Ta… Đối tượng của Thương Cảm là hoàn cảnh khó khăn, tuyệt vọng, đau thương của chúng sinh chứ không phải là Thương Cảm sự Vô minh và Tham ái. Chính vì vậy mà Thương Cảm ấy hướng đến giúp đở chúng sinh thay đổi Hoàn Cảnh sống. Có thể hành vi giúp đở chúng sinh thay đổi Hoàn Cảnh sống như vậy, xoa dịu tạm thời nỗi khổ, nhưng nó chỉ thay thế nỗi khổ này bằng nỗi khổ khác mà thôi, không Chấm Dứt được Khổ, vì Nguyên nhân Khổ là Vô minh và Tham ái thuộc Nội Tâm chứ không phải Ngoại Cảnh.
Từ Bi chỉ thuộc về bậc Thánh, Từ Bi không có nơi Phàm phu. Từ Bi không do tu tập mà có, Từ Bi là sản phẩm có mặt trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo siêu thế của bậc Thánh. Ý thức Chánh Tri Kiến là hiểu biết đúng như thật về Khổ Tập Diệt Đạo thì sẽ phát sinh Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, biểu hiện của Từ Bi, là sự tử tế, bi mẩn của bậc Thánh. Chính vì điều này mà trong Ba Mươi Bảy chi phần của đạo bao gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo, Đức Phật không có dạy tu tập Từ Bi. Tu tập Bát Chánh Đạo thì sẽ có được sản phẩm Từ Bi, chứ không có một phương pháp nào tu tập Từ Bi. Nếu tu tập Từ Bi theo cách rải tâm từ đến muôn loài chúng sinh, là đang thực hành theo tư tưởng có một chủ thể, một cái Ta, một Bản Ngã đang rải tâm từ đến muôn loài chúng sinh đang đau khổ, đó là đang tu tập lòng tốt của Phàm phu dựa vào nền tảng Ta hơn, Ta kém, Ta bằng chứ không phải Từ Bi. Tư tưởng đó chính là Ý thức Tà Tri Kiến, đang tu tập chấp thủ Bản Ngã : Ta hơn muôn loài chúng sinh đang đau khổ. Đây là điều rất vi tế, khó thấy, khó biết và thực hành như vậy là đang vun bồi một” Đại Ngã”
Trong Phật giáo thường nói: Từ Bi và Trí Tuệ nhưng nếu theo ngữ pháp Tiếng Việt phải nói là Trí Tuệ và Từ Bi để người nghe hiểu được Trí Tuệ phát sinh Từ Bi, Trí Tuệ là Nhân, Từ Bi là Quả. Để tránh ngôn ngữ Hán Việt, để người bình dân dễ tiếp thu và để Đạo Phật nhập thế, một số người lại chủ trương thay thế từ Trí Tuệ và Từ Bi bằng từ Hiểu và Thương. Ngôn ngữ là phương tiện truyền thông, được con người chế định, giúp cho con người giao tiếp với nhau, hiểu được sự vật, hiện tượng mà ngôn ngữ chỉ bày. Vì vậy từ Hiểu và Thương thuộc về giao tiếp thế gian, được thế gian chế định nội dung, nên khi nghe đến Hiểu và Thương thì người nghe đã mặc định nội dung. Từ Hiểu được mọi người quan niệm là hiểu biết của nhân loại và đương nhiên là hiểu Khổ Tập Diệt Đạo ở nơi Ngoại Cảnh, Hiểu này là “thấy sợi dây lại tưởng là con rắn”, vì vậy Thương phát sinh do Hiểu như vậy thuộc về Phàm phu chứ không phải là Trí Tuệ và Từ Bi của bậc Thánh.

 

Đại Đức Nguyên Tuệ

Trả lời