Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 5 – TÍNH CHẤT VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ

Tính chất Vô thường Vô Ngã

BÀI 5: TÍNH CHẤT VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ

Câu 1:  Tâm có thực sự sinh diệt không?

Trong lộ trình tâm có những mong muốn của tâm mang theo suốt đời để mong cầu đạt được, thậm chí cả khi luân hồi, qua đến đời sau. Ví dụ, Đức Phật cũng phải trải qua nhiều đời kiếp mới giải thoát, đạt được Niết bàn, hay nhiều vị thánh nhân khác cũng vậy. Vậy nó có thực sự sinh diệt hay không?

Trả lời:

Quý vị học lý thuyết rồi, và khi thực hành trong phần Quán Thọ thì quý vị trực tiếp tuệ tri sự sinh diệt của Thọ. Đặc biệt là qua bài Lý duyên khởi thì quý vị hiểu được tính chất sinh diệt của Thọ và qua phần thực hành quán Thọ thì quý vị trực tiếp quán sát để tuệ tri sự sinh diệt của Cảm thọ.

Khi Thọ đó, các cảm giác đó diệt rồi thì nó phát sinh thông tin lưu giữ trong bộ nhớ. Và thông tin về Thọ được lưu giữ trong bộ nhớ thì không phải là các Cảm thọ. Quý vị hình dung như thế này: trong thẻ nhớ có lưu giữ thông tin về một bộ phim chẳng hạn, nếu đưa thẻ nhớ vào đầu đọc và nó phát ra hình ảnh, hiện lên trên màn ảnh hình ảnh về một chuyện phim nào đó. Rõ ràng hình ảnh ở trên màn ảnh khác hẳn với thông tin ở trong thẻ nhớ. Cái chứa trong thẻ nhớ là thông tin, không phải là hình ảnh. Còn cái phát sinh trên màn ảnh là hình ảnh, do tương tác với thông tin trong thẻ nhớ mà phát sinh.

Tương tự, quý vị suy luận: các Cảm thọ sinh lên rồi diệt đi, nhưng các Cảm thọ đó, chẳng hạn cảm giác hình ảnh hay cảm giác âm thanh khi diệt đi rồi thì mới phát sinh ra thông tin, và thông tin đó được lưu vào bộ nhớ. Nên không phải là người ta giữ Cảm thọ đó suốt đời, từ đời này sang đời khác, mà lưu giữ đó là lưu giữ thông tin.

Còn thông tin đó được truyền từ đời này sang đời khác như thế nào thì quý vị học về luân hồi tái sinh, sẽ được lý giải: sau khi con người chết, không có linh hồn thì cái gì đi tiếp nối, truyền đến đời sau.

Câu 2:  Khi nào thì gọi là thấy được pháp sinh diệt?

Trong bài giảng Sư có trích dẫn một bài kệ Pháp cú: “Ai sống một trăm năm; Không thấy pháp sinh diệt; Không bằng sống một ngày; Thấy được pháp sinh diệt.” Vậy cho con hỏi khi nào thì gọi là Thấy được pháp sinh diệt?

Trả lời:

Quý vị đã học về Lý duyên khởi. Khi quý vị thấu suốt Lý duyên khởi, nó trở thành hiểu biết của quý vị hoặc khi quý thực hành Chánh Niệm để quán sát Lý duyên khởi thì lúc đó hiểu biết của quý vị là tất cả các danh pháp, sắc pháp đều là phát sinh theo quy luật duyên khởi. Đó là hai nhân tiếp xúc với nhau cùng diệt rồi phát sinh quả, quả đó lại tiếp xúc với nhân khác rồi diệt đi và phát sinh quả khác. Như vậy, tất cả các sắc pháp và danh pháp đều sinh lên rồi diệt đi. Đó là TỰ TÁNH – tự tánh sinh diệt, bản chất của nó là sinh lên rồi diệt đi. Nó không sẵn có, luôn luôn có, không thường hằng, thường trú ở đâu cả nên gọi là vô thường, sinh diệt.

Đó là một cách đơn giản để quý vị kết luận. Nếu mình nhìn thấy sự thật Lý duyên khởi: hai nhân tương tác với nhau cùng diệt mới phát sinh quả thì quả đó là sinh diệt. Bất kỳ cái gì đều sinh diệt và cái gì không sinh diệt là không đúng với sự thật. Pháp gì mà không sinh diệt thì pháp đó là do tưởng tượng ra thôi chứ không phải là cái có thật.

Khi một người hiểu đúng sự thật về pháp thì bất kỳ pháp gì phải thuyết minh được duyên khởi: do cái gì có mặt mà pháp đó có mặt, do cái gì không có mặt mà pháp đó không có mặt. Nếu đúng theo Lý duyên khởi là tìm ra hai nhân tương tác với nhau cùng diệt mới phát sinh ra pháp đó. Nếu không tìm đủ hai nhân mà quan sát trực tiếp thấy một nhân thì cũng có thể kết luận được. Thuyết minh được như vậy mới chấp nhận pháp đó là có thực.

Ví dụ, nói rằng có 7 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thân thức, thiệt thức, tưởng thức và ý thức. Quý vị biết rằng 7 thức này là do Căn – Trần tiếp xúc mà phát sinh, và thuyết minh được do cái gì có mặt mà thức đó có mặt. Ví dụ nhãn thức: do cái gì có mặt mà nhãn thức có mặt? Thuyết minh được ngay là do Mắt và Sắc trần tiếp xúc với nhau mà phát sinh ra nhãn thức. Do cái gì không có mặt mà nhãn thức không có mặt, tức là hoặc là Mắt nhắm lại hoặc không có Sắc trần, hoặc có Mắt và Sắc trần nhưng không có tiếp xúc. Đó là quan sát trên sự thực mà biết được nhãn thức như vậy. Tương tự với các thức khác.

Có những người hoặc trường phái đề ra một pháp nhưng họ không thuyết minh được duyên khởi: do cái gì có mặt mà pháp đó có mặt thì cái đó là do họ tưởng tượng ra thôi chứ không phải là họ quan sát sự thật mà thấy ra pháp đó.

Trong Phật giáo có trường phái đề ra là Mạt na thức và A lại da thức. Họ đề ra là có Mạt na thức và A lại da thức nhưng không hề thuyết minh được do cái gì có mặt mà A lại da thức có mặt hoặc do cái gì có mặt mà Mạt na thức có mặt. Những cái đó không thuyết minh được thì rơi vào việc phải công nhận A lại da thức là không sinh không diệt, thường hằng thường trú. Như vậy là trái với sự thật là tâm vô thường.

Vì thế, thấy được pháp sinh diệt là do thấy duyên khởi. Nếu không thấy duyên khởi thì không bao giờ thấy được pháp sinh diệt. Cho nên cái này Đức Phật đã nói là: “Ai thấy Lý duyên khởi là thấy pháp, ai thấy pháp là thấy ta”.

Không những thấy được Lý duyên khởi là thấy được pháp sinh diệt mà còn thấy được pháp vô ngã, vô chủ vô sở hữu nữa – thấy vô thường, vô ngã. Đó là nền tảng để thấy được pháp sinh diệt. Nhưng cái sinh diệt cần phải quan sát cụ thể ở đây là lộ trình tâm sinh diệt, Bát Tà Đạo hay Bát Chánh Đạo cũng sinh diệt.

Chúng ta sử dụng duyên khởi để thấy rằng, ví dụ Niệm là do hai nhân: lượng thông tin ở ngoài do Căn – Trần tiếp xúc phát sinh với lượng thông tin trong bộ nhớ. Nếu lượng thông tin ngoài này tiếp xúc với Vô minh thì ra Tà niệm, lượng thông tin ngoài này tiếp xúc với Minh thì ra Chánh Niệm. Tà niệm hay Chánh Niệm do hai nhân tương tác với nhau mới phát sinh ra quả. Chúng ta hiểu như vậy thì kết luận là Tà niệm hay Chánh Niệm đều sinh diệt. Theo quy luật nhân diệt quả sinh thì Tà niệm diệt rồi Tà tư duy mới sinh, Tà tư duy diệt thì Tà tri kiến mới sinh. Chúng ta thấy được các lộ trình nhân quả nối tiếp nhau và thấy sinh diệt rõ ràng minh bạch.

Vì thế, ai không thấy Lý duyên khởi thì không thể thấy sinh diệt, mà thấy các pháp biến đổi, phải vậy không? Hiểu Lý duyên khởi một cách sai lạc là các pháp biến đổi từ pháp này sang pháp khác mà không thấy được sự sinh diệt. Vì thế nên nói tu là để chuyển hóa, chuyển hóa từ Tham Sân Si sang Giới Định Tuệ, chuyển hóa từ Vô minh sang Minh. Đó là hiểu trên cơ sở nhân biến đổi thành quả, còn không hiểu được sự sinh diệt. Bản thân Tham Sân Si không có ở đâu cả, chỉ khi nào Tà kiến xuất hiện mới là nhân phát sinh Tham Sân Si. Trước khi Tà kiến xuất hiện thì không có Tham Sân Si ở đâu cả. Khi quý vị ngủ say không mộng mị thì không có Tham Sân Si. Nhưng con người hiểu rằng tâm là cấu trúc nguyên khối và Tham Sân Si ở trong đó, chứ không thấy được pháp sinh diệt, vô thường. Tham Sân Si sinh lên rồi diệt đi do một nhân là Tà tri kiến. Vậy khi Tà tri kiến không có mặt thì có Tham Sân Si không?

Thấy được pháp sinh diệt rất quan trọng, cho nên “Ai sống một trăm năm, không thấy pháp sinh diệt, không bằng sống một ngày, thấy được pháp sinh diệt”. Thấy được pháp sinh diệt quan trọng như vậy nhưng thấy được pháp vô chủ vô sở hữu cũng cực kỳ quan trọng, vì đây là hai nền tảng của Giáo Pháp Đức Phật.

Ở trong kinh điển thường nhắc đi nhắc lại là ngoại đạo hỏi vị tỳ kheo: “Sa môn Gotama thuyết pháp gì?”. Vị đó trả lời là: “Đức Thế Tôn chúng tôi thuyết là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức vô thường, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức vô ngã”. Chỉ có như vậy thôi. Cho nên nếu không biết duyên khởi thì không biết vô thường, vô ngã.

Quý vị thấy là các sự vật hiện tượng hay các pháp thì đều có hai cách hiểu về các pháp đó. Cũng nói vô thường, vô ngã nhưng có một cách hiểu vô thường, vô ngã sai lạc, không đúng sự thật gọi là Vô minh. Và một cách hiểu đúng như thật về vô thường, vô ngã gọi là Minh, trí tuệ. Vô minh không phải là không biết gì, mà là biết sai. Vì biết sai nên chấp thủ vào biết sai đó. Vì thế không thể nào khám phá sự thật để có hiểu biết đúng. Chỉ khi nào được giảng dạy, được chỉ cho cái đúng thì mới biết đó là sai. Không có biết đúng thì cũng không biết cái sai.

Vì vậy, nói là “Ai sống một trăm năm, không thấy pháp sinh diệt, không bằng sống một ngày, thấy được pháp sinh diệt” tức là phải thấy đúng pháp sinh diệt chứ không phải thấy sinh diệt một cách sai lạc.

Câu 3:  Sinh không từ đâu đến, diệt không đi về đâu

Về sự vô thường: ý thứ nhất, vô thường mang nghĩa sinh diệt, sinh lên rồi diệt đi nối tiếp nhau chứ không phải biến đổi. Ý này con thấy có thể hiểu được. Song ý thứ hai là sinh lên không từ đâu cả, diệt đi cũng không đi về đâu, thì con chưa thực sự hiểu rõ vì sao lại từ không thành có, từ có thành không như vậy. Có pháp quy luật nào ở đây chăng?Mong sư chỉ dạy thêm.

Trả lời:

Quý vị thấy rằng các pháp sinh lên là do duyên khởi. Cho nên, các pháp phát sinh phải có điều kiện. Điều kiện đó là hai nhân tiếp xúc với nhau. Sự tiếp xúc đó là duyên khởi. Cho nên, nó là vô thường. Các pháp phát sinh là vô thường và nói rằng vô thường là sinh không từ đâu đến, diệt không đi về đâu.

Sinh không từ đâu đến là do tiếp xúc mà phát sinh. Rõ ràng là chỉ khi nào tiếp xúc thì nó phát sinh, nó không ở đâu cả. Ví dụ, nói về tiếng trống: sự hiểu sai của con người là tiếng trống do cái trống phát sinh ra. Cho nên, trước khi sinh ra tiếng trống, tiếng trống đã sẵn có trong cái trống rồi. Như vậy, một nhân sinh ra một quả thì quả đó đã có sẵn trong nhân.

Còn bây giờ, quý vị hiểu rằng có cái trống và có cái dùi, chỉ khi nào cái trống tiếp xúc với cái dùi (hay duyên với cái dùi) thì lúc đó mới phát sinh ra tiếng trống. Cho nên, tiếng trống này là do duyên, do tương tác mới khởi lên chứ không phải do dùi biến đổi thành hay do trống biến đổi thành. Tiếng trống không có sẵn trong cái trống và cũng không có sẵn trong cái dùi. Trước khi sinh ra, nó không có ở đâu cả. Nếu có trống và có dùi mà chưa tiếp xúc với nhau thì chưa có tiếng trống. Tiếng trống lúc đó không ở trong trống cũng không ở trong dùi. Nó không ở đâu cả.

Cho nên, quý vị thấy rằng tiếng trống không có trong cái trống, tiếng trống không có trong cái dùi. Có ba nhân tố để phát sinh ra tiếng trống là có trống, có dùi và có sự tiếp xúc. Nhưng bây giờ có trống, có dùi thì chưa có tiếng trống ở đâu cả. Tiếp xúc chưa sinh nên tiếng trống chưa sinh. Tiếng trống không có trong sự tiếp xúc. Đến khi trống và dùi tiếp xúc, lúc đó, do cái xúc đó mới phát sinh ra tiếng trống. Cho nên, tiếng trống trước khi sinh ra nó không có ở đâu cả. Và đương nhiên, khi nó diệt đi nó cũng không về đâu cả, không về trong cái trống, không về trong cái dùi, cũng không về ở đâu cả.

Sinh không từ đâu đến, diệt không đi về đâu là như vậy. Các pháp khác cũng tương tự như vậy.

Câu 4:  Cách quan sát Vô thường – Sinh diệt

Thưa sư, mọi người ai cũng quán vô thường ở tương lai nên sống với Tà kiến. Con xin sư cho con thêm ví dụ vô thường ở hiện tại để có thể hiểu rõ hơn ạ. Ví dụ mà Sư đưa ra là bàn tay tiếp xúc với cái bàn đã xảy ra vô thường sinh diệt, nhưng vì nó vi tế quá nên khó hình dung giải thích cho mọi người hiểu.

Trả lời:

Vô thường – sinh diệt phải thuộc về phạm trù của cái Biết ý thức, là do suy luận mà có được, chứ không phải là cái Thấy, nó không phải là nội dung của cái Thấy. Cái Thấy thì không phân biệt được sinh diệt, chỉ có cái Biết. Nhưng cái Biết lại là do suy luận trên cái Thấy.

Quý vị phải thấy rằng, sinh diệt rất nhanh chóng, nhưng phải là suy luận. Ví dụ, mắt tiếp xúc với ánh sáng thì phát sinh cảm giác hình ảnh ánh sáng và đồng thời phát sinh cái Thấy nhãn thức thấy cảm giác hình ảnh ánh sáng là liên tục. Ví dụ cái bóng điện đây này, cụ thể là ánh sáng phát sinh từ bóng điện tiếp xúc với mắt phát sinh ra cảm giác hình ảnh và đồng thời phát sinh cái Thấy nhãn thức thấy cảm giác hình ảnh.

Đối với cái Thấy cảm giác hình ảnh, cái Thấy nhãn thức thì cái Thấy nhãn thức này không có khái niệm là ánh sáng, cảm giác ánh sáng đó là sinh diệt. Nó chỉ thấy thôi, không có khái niệm sinh diệt khởi lên. Nhưng cái Biết ý thức biết rằng cảm giác hình ảnh đang được thấy đó là sinh diệt, cụ thể là 50 lần trong một giây.

Tại sao? Vì quý vị biết rằng ánh sáng đó là do duyên với dòng điện mà khởi lên. Dòng điện thì sinh diệt 50 lần trong một giây, cho nên ánh sáng đó cũng sinh diệt, cũng tắt rồi đỏ, tắt rồi đỏ 50 lần trong một giây. Như vậy, ánh sáng đó (đang tắt đỏ 50 lần trong một giây) tiếp xúc với mắt thì đương nhiên cảm giác hình ảnh phát sinh cũng phải sinh lên rồi diệt đi 50 lần trong một giây, nhưng cái Thấy nhãn thức thì không thể thấy được sự sinh diệt đó.

Đó là một ví dụ để quý vị suy luận mọi cái.

Câu 5:  Tư tưởng không sinh không diệt

Thưa sư, tư tưởng “không sinh không diệt” khác hay giống với bài Bản ngã, và quan điểm luân hồi của đạo Phật?

Trả lời:

Quý vị đã học về Lý duyên khởi rồi, tất cả các sự vật hiện tượng cho dù là vật chất hay tinh thần, danh hay sắc thì đều do duyên khởi, do duyên mà khởi lên, cho nên nó vô thường, nó vô chủ vô sở hữu, hay là vô ngã.

Vì vậy, chủ trương rằng các sự vật hiện tượng là không sinh không diệt thì đó là Tà kiến. Tà kiến này xuất phát từ quan niệm duy vật, quan niệm về vật chất: vật chất không sinh ra, không mất đi, mà chỉ biến đổi từ vật này sang vật khác, từ dạng này sang dạng khác. Như vậy, các sự vật hiện tượng là vật chất thì nó không sinh ra không mất đi, cho nên gọi đó là không sinh không diệt.

Quan điểm đó là quan điểm duy vật, quan điểm đó dựa trên hiểu biết sai về duyên khởi, nghĩa là nhân biến đổi thành quả, cho nên nhân trong quả, quả trong nhân, rồi từ vật này biến sang vật khác, chứ đâu có sinh ra đâu có mất đi.

Quý vị thấy duyên khởi là sinh lên rồi diệt đi, trước khi sinh không ở đâu cả, sau khi diệt không về đâu cả, nó chỉ sinh lên rồi diệt đi, tồn tại duy nhất một lần thôi. Còn quan điểm của duy vật là vật chất chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác, từ vật này sang vật khác, như vậy là nó không sinh ra cũng không diệt đi, mà chỉ biến đổi.

Cho nên quan điểm không sinh không diệt này là xuất phát từ hiểu biết duyên khởi một cách sai lệch, và theo quan điểm duy vật như vậy.

Câu 6:  Lộ trình tâm Bát Tà Đạo có thể kết thúc ở bất kỳ chỗ nào, và đều phát sinh ra khổ hoặc vui

Khi khảo sát lộ trình tâm Bát Tà Đạo với thực tế con thấy có nhiều trường hợp lộ trình tâm chỉ dừng lại ở Tà niệm và Tà tri kiến hoặc dừng lại khi phát sinh Tham Sân Si chứ không đưa ra lời nói, hành động dẫn đến Khổ Vui. Vì thực tế các sự việc trong đời sống diễn ra liên tục và đang xen nhau. Vậy việc con hiểu lộ trình tâm Bát Tà Đạo không phải lúc nào cũng đi hết cả lộ trình mà có thể dừng lại ở một số điểm bất kỳ thì có đúng không?

Trả lời:

Cái này quý vị đã học trong ngày thứ hai, về tính chất vô thường của lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Lộ trình tâm nói tổng quát là từ Căn – Trần tiếp xúc rồi cuối cùng là phát sinh Khổ Vui. Nhưng đó là lộ trình tâm tổng quát, còn lộ trình tâm thực tế thì nó có thể dừng lại ở bất kỳ chỗ nào trên lộ trình tâm đó.

Và quý vị phải lưu ý: tuy chúng ta nói rằng cuối cùng có lời nói, hành động rồi mới phát sinh Khổ Vui thì đó là nói tổng quát. Nhưng lộ trình tâm Bát Tà Đạo kết thúc ở đâu thì cũng đều phát sinh Khổ Vui cả. Bởi vì nó xảy ra những lộ trình tâm thứ cấp.

Ví dụ: khi Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, tiếp đến là Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến khởi lên, tiếp đến Sân khởi lên chả hạn. Nếu như dừng lại ở Sân, chưa phát sinh ra lời nói, hành động thì ngay đó quý vị thấy không phải là không phát sinh Khổ đâu. Phải khảo sát kỹ hơn: có lộ trình tâm thứ cấp ở đây.

Khi Sân khởi lên thì nó phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ, và lượng thông tin đó truyền dẫn xuống các bộ phận của cơ thể theo đường dẫn truyền thông tin. Thí dụ như lượng thông tin Sân lo sợ chẳng hạn, nó truyền dẫn xuống vùng gan ruột, dạ dày. Tại đây, lượng thông tin đó tương tác với lượng thông tin di truyền ở các tế bào này làm phát sinh nội xúc, và nội xúc này làm phát sinh Cảm giác đồng thời phát sinh Thân thức. Và cảm giác này chính là cảm giác khó chịu, Khổ thọ nơi thân. Cho nên một người khi Sân khởi lên thì lúc đó cũng cảm nhận cái Khổ, và cảm nhận cái khổ đó là cảm nhận cái khổ do nội xúc ở vùng nội tạng phát sinh ra.

Bất kỳ một lộ trình tâm nào, khi tương tác thì phát sinh ra rất nhiều quả. Kể cả lộ trình tâm dừng lại tâm Biết ý thức Tà kiến thôi, tức là lộ trình tâm Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến rồi nó kết thúc tại đó, không khởi lên Tham Sân Si, lộ trình tâm này rất yếu. Nhưng dẫu sao khi tế bào thần kinh não bộ hoạt động, ví dụ suy nghĩ khởi lên thì bản thân những thông tin đó cũng được truyền dẫn về các cơ quan, các tế bào khác trong cơ thể làm phát sinh nội xúc. Cho nên lúc đó quý vị cảm nhận là suy nghĩ nhiều thì cũng căng thẳng, cảm nhận căng thẳng đó là do nội xúc, do hành vi tư duy tại tế bào thần kinh não bộ mà phát sinh.

Như vậy, nếu quan sát một cách thật tỉ mỉ, vi tế thì mới thấy là lộ trình tâm Bát Tà Đạo có thể kết thúc ở bất kỳ chỗ nào, nhưng cho dù kết thúc ở chỗ nào thì cũng đều phát sinh một lộ trình tâm thứ cấp, phát sinh cảm giác Vui hoặc Khổ ở vùng nội tạng.

Câu 7:  Tại một thời điểm chỉ có một thứ tâm duy nhất

“Tâm là một phạm trù bao gồm nhiều Danh pháp đang sinh lên rồi diệt đi liên tiếp nhau và tại một thời điểm chỉ có một Danh pháp duy nhất.” Thưa Sư, con vẫn chưa thực sự hiểu ý này. Ví dụ khi đang có Tà định chú tâm xem một bộ phim yêu thích thì tại thời điểm đó lộ trình tâm đang là Tà định, nhưng rõ ràng song song với nó là các cảm giác âm thanh, cảm giác xúc chạm trên cơ thể đồng thời xảy ra. Các cảm giác đó cũng là tâm, vậy thì tại sao chỉ có duy nhất một thứ tâm trên lộ trình tâm hiện tại vậy ạ? Liêụ có phải cảm giác nổi trội nhất là thứ tâm duy nhất trên một lộ trình tâm không?

Trả lời:

Nghe giảng và đối chiếu với sự thật thì một lộ trình tâm dù là Bát Tà Đạo hay Bát Chánh Đạo đều do DUYÊN KHỞI theo quy luật NHÂN diệt, QUẢ sanh nên tại một thời điểm chỉ có MỘT TÂM (một thứ tâm) ngoại trừ Thọ – Tưởng và Ý thức – Tư tưởng đồng sanh đồng diệt, đồng hiện hữu.

Hai là không có hai lộ trình tâm đồng thời khởi lên, đồng thời tồn tại mà lộ trình tâm này diệt, lộ trình sau mới khởi lên, nhưng vì thời gian tồn tại mỗi một lộ trình tâm là “chớp nhoáng” nên không thể phân biệt được một cách trực tiếp (tâm ghi nhận, tâm Thấy) mà chỉ phân biệt qua suy luận của tâm Biết ý thức. Suy luận hai lộ trình xảy ra đồng thời thì không thể phân biệt được cái này với cái kia. Tuy có vẻ cảm nhận đồng thời nhiều đối tượng nhưng vẫn phân biệt rất nhanh một cách rõ ràng, chứng tỏ chúng thuộc các lộ trình sinh diệt “chớp nhoáng” ĐAN XEN VỚI NHAU.

Tổng hợp hai điều trên thì kết luận tại một thời điểm, trong một khoảng thời gian VÔ CÙNG NHỎ chỉ tồn tại duy nhất một thứ tâm (một tâm) ngoại trừ Thọ – Tưởng và Ý thức – Tư tưởng.

Khái niệm “nổi trội” là để chỉ cho lộ trình XÚC – [Thọ – Tưởng] xảy ra rất nhiều đối tượng (Thọ) và kết thúc tại đó, chỉ có những đối tượng nổi trội mới được “xử lý”. Tức là mới xảy ra tiếp theo gồm Niệm – Tư duy – Ý thức… Hay cụ thể: XÚC – [Thọ – Tưởng] – Tà niệm – Tà tư duy – Tà tri kiến – Tham Sân Si…

Câu 8:  Tâm vô ngã, không thể điều khiển được, vậy “Tác ý” khác “Điều khiển” chỗ nào?

Trả lời:

Trên lộ trình tâm, Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, rồi Tà niệm, do Tà niệm mới phát sinh Tà tư duy, do Tà tư duy mới phát sinh Tà tri kiến, do Tà kiến mới phát sinh Tham Sân Si, do Tham Sân Si mới phát sinh Tà định, do Tà định phát sinh Dục, do Dục phát sinh Tà tinh tấn, do Tà tinh tấn mới phát sinh Phi như lý tác ý, chính Tác ý này mới phát sinh lời nói, hành động.

Như vậy, đâu phải chỉ có một mình tác ý, mà tác ý là do Tà tinh tấn mà phát sinh ra. Nếu gọi là điều khiển thì trước đó không có gì cả. Nhưng nó là một chuỗi phát sinh theo duyên khởi, là một quy luật. Và đã là quy luật thì không có ai làm chủ, không có ai điều khiển cả.

Quý vị hình dung như thế này: có một cái ống đặt nghiêng, một đầu cao một đầu thấp, nếu quý vị đổ nước từ đầu cao, thì tự động nước sẽ chảy từ đầu cao xuống đầu thấp. Ta tạm nói ở đây nước chảy từ chỗ cao đến chỗ thấp là quy luật, hễ có chênh lệch độ cao đó, nếu nước ở đầu cao thì TỰ ĐỘNG nó sẽ chạy xuống đầu thấp. Cho dù ở bất kỳ nơi nào trên quả đất này thì nước cũng chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp, đó là quy luật. Và đã là quy luật thì không có ai điều khiển, làm chủ, không có Thượng Đế hay bất cứ gì làm chủ, điều khiển nó.

Khi học về Lý duyên khởi, quý vị sẽ thấy quy luật này là quy luật tương tác giữa hai nhân. Nước là một nhân, quả đất là một nhân, hễ có hai nhân đó thì sẽ xảy ra sự tương tác, phát sinh ra kết quả như vậy.

Còn Tác ý, là do Tà tinh tấn mà phát sinh, nó diễn ra theo quy luật, không có gì là chủ nhân chủ sở hữu, không có cái gì là chủ nhân điều khiển nó cả. Đồng nghĩa là không có Tôi, Ta, ông A, bà B nào là chủ nhân của tác ý đó cả. Tác ý đó là do duyên khởi. Đã theo quy luật duyên khởi, hai nhân tương tác thì phát sinh ra nó thôi. Ở đây có hai nhân là Tà tinh tấn và một nhân nữa là cấu trúc phần cứng của cơ thể, thì nó phát sinh ra tác ý. Hai nhân tương tác phát sinh ra tác ý thì không có nhân nào là chủ nhân làm ra tương tác đó.

Đây là một vấn đề mà mới đầu quý vị tiếp thu về tính chất vô chủ, vô sở hữu, vô ngã. Cho đến khi học bài Lý duyên khởi thì quý vị mới thấu suốt hơn.

Câu 9:   Các quy luật như Bát Tà Đạo, Bát Chánh Đạo, Quy luật Duyên Khởi, Vô Thường, Vô Chủ Sở Hữu, Vô Ngã và các Quy luật khác là VÔ THƯỜNG hay THƯỜNG. Tại sao?

Trả lời:

Quan điểm các pháp là VÔ THƯỜNG hay THƯỜNG là quan sát các pháp đó theo chiều THỜI GIAN, gắn liền với khái niệm THỜI GIAN, cũng như quan điểm VÔ NGÃ hay HỮU NGÃ gắn liền với khái niệm KHÔNG GIAN.

– Các pháp hữu vi do Duyên khởi diễn tiến theo thời gian (nhân diệt quả sanh) nên tự tánh (tính chất tự có) là Vô thường. Vì không hiểu đúng Duyên khởi, cho rằng nhân biến đổi thành quả nên cho rằng (chấp thủ) các pháp là Thường (không sinh không diệt, chấp thường).

– Các quy luật như Duyên khởi, Vô thường, Vô ngã… là tự tánh (tính chất tự có) của các pháp không do Duyên khởi, KHÔNG DIỄN TIẾN THEO THỜI GIAN (không bị chi phối bởi thời gian) nên không thể dùng khái niệm VÔ THƯỜNG hay THƯỜNG để nói về Quy luật. Các quy luật cho dù con người có phát hiện ra hay không phát hiện ra thì nó vẫn vậy không bị chi phối bởi thời gian, không gian.

Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận