Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 7 – KHỔ ĐẾ VÀ TẬP ĐẾ

Hỏi đáp Pháp học Tứ Thánh Đế: Bài 7 – KHỔ ĐẾ VÀ TẬP ĐẾ

HỎI ĐÁP BÀI 7: KHỔ ĐẾ VÀ TẬP ĐẾ

Câu 1:  Làm sao có thể Tuệ Tri toàn triệt về Khổ nếu là người chưa có nhiều sự từng trải?

Trả lời:

Cần phân biệt Kinh nghiệm khổ, trải nghiệm khổ với Tuệ tri khổ hay thuật ngữ Phật học Hán việt gọi là Khổ đế. Tuệ tri khổ hay Giác ngộ sự thật khổ còn gọi là Khổ đế là Hiểu biết hay Nhận thức ĐÚNG SỰ THẬT khổ.

Trải nghiệm khổ hay kinh nghiệm khổ đang xảy ra trong cuộc sống hàng ngày thì ai là người thần kinh bình thường cũng từng trải, cũng kinh nghiệm được khổ, không cần học hỏi nhiều. Nhưng Nhận thức về khổ mà họ đã trải qua là Nhận thức SAI SỰ THẬT, là vô minh, tà kiến về khổ. Cho dù họ có từng trải trăm đắng ngàn cay, chất chồng khổ đau khốc liệt bằng mấy dãy Hy Mã Lạp Sơn thì những khổ đau đó cũng không giúp ích gì cho họ, không làm cho họ học được bài học từ sự khổ đau đó. Nhiều người đã đưa ra nhận thức sai lầm rằng phải cám ơn khổ, phải tri ân khổ bởi khổ dạy cho ta bài học quý giá của cuộc đời. Vì sao? Vì nhận thức của nhân loại về khổ là vô minh tà kiến nên không thể tự mình học hỏi bài học về khổ.

Trên đời này chỉ có một người duy nhất tự mình học hỏi, tự mình khám phá, tự mình nhận thức được sự thật khổ, tự mình học được bài học về khổ. Đó là Đức Phật và ai muốn học bài học khổ để giác ngộ khổ đế, để tuệ tri khổ thì phải học từ Đức Phật.

Tuệ tri khổ hay Khổ đế là Hiểu biết đúng sự thật khổ và nó không tách rời khỏi Tuệ tri Nguyên nhân khổ hay Tập đế.

Khi nghe giảng bài Khổ đế và Tập đế có được Văn tuệ, nhận thức đúng sự thật Khổ, Nguyên nhân Khổ thuộc về nội tâm chứ không phải ngoại cảnh phát sinh trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo do Căn Trần tiếp xúc mà phát sinh… và dùng Tư tuệ để Tuệ tri về Khổ và Nguyên nhân Khổ mà trong quá khứ mình đã trải qua, đã kinh nghiệm.

Khi khổ khởi lên trong cuộc sống hiện tại thì nhờ chánh niệm và chánh kiến khởi lên sau đó mà Tuệ tri Khổ và Nguyên nhân khổ. Đương nhiên cũng cần thuần thục để Tuệ tri Diệt đế và Đạo đế.

Đương nhiên người chưa từng trải nhiều cũng khó khăn trong việc Tuệ tri toàn diện Khổ đế và Tập đế, chưa thể lông tóc dựng ngược với khổ đế và tập đế nên sự tinh tấn, quyết tâm để trọn vẹn với Diệt đế và Đạo đế không thể bằng người từng trải nhiều trong cuộc sống.

Tuy thế không phải là phải tự mình từng trải cho hết mọi cái khổ rồi mới tuệ tri Diệt đế và Đạo đế mà người trí có thể quan sát nỗi khổ của thế gian, của con người thì cũng có thể Tuệ tri Khổ đế và Tập đế toàn diện, sâu sắc được.

Câu 2:   Hy vọng chấm dứt khổ hoàn toàn

Thưa Sư, sau buổi học đầu tiên con nhận ra khi con đeo đuổi niềm vui hạnh phúc thì đúng thật không bao giờ hết khổ mà chỉ là đổi cái khổ này lấy cái khổ khác… Con nhận ra điều đó và con đang cố gắng bỏ gánh hạnh phúc xuống, dừng đeo đuổi niềm vui hạnh phúc. Con bắt đầu thấy những gì con muốn và đeo đuổi bấy lâu có cũng được, không có cũng không sao… Và lúc này tự nhiên con thấy con muốn buông bỏ tất cả, con không còn muốn làm điều gì nữa. Con cảm thấy những gì con muốn có và đang làm trở nên vô nghĩa, vì có làm thì cũng không hết khổ, mà chỉ lấy khổ này đổi khổ khác. Cuối cùng con phát hiện con sống cũng được, không sống cũng không sao. Con thấy sống không còn ý nghĩa gì nữa, vì sống thì không bao giờ hết khổ. Vậy con còn sống làm gì nữa? Rồi con muốn buông xuôi tất cả. Con thấy con sai sai… Mong sư chỉ điểm.

Trả lời:

Những gì quý vị nói đó chỉ mới là một nửa vấn đề. Đó mới chỉ là Khổ đế và Tập đế. Đương nhiên khi thấy sự thật là nhân loại đi tìm Hạnh phúc để chấm dứt khổ thì chỉ đổi cái khổ này lấy cái khổ khác – đó là sự thật đáng kinh hãi, và ai là người trí đều lông tóc dựng ngược, sợ hãi cái Vô minh đó của nhân loại.

Nếu quý vị sợ hãi và buồn chán như vậy là tốt cho bài học đã nghe, nhưng phần quan trọng quý vị phải nghe tiếp là Diệt đế là Khổ chấm dứt và Đạo đế là Con đường Khổ được chấm dứt.

Quý vị phải học tiếp để thấy được là thế gian với tâm Bát Tà Đạo thì chỉ quanh quẩn nơi khổ, không bao giờ chấm dứt được khổ. Còn Đức Phật đã khám phá ra cách thức Chấm dứt Khổ hoàn toàn. Đó chính là Bát Chánh Đạo.

Sau khi học xong phần Diệt đế và Đạo đế quý vị sẽ tràn trề hy vọng là mình có thể Chấm dứt Khổ hoàn toàn. Và nhờ niềm tin và hy vọng về Con đường chấm dứt khổ là Bát Chánh Đạo mà phát sinh Tích cực thực hành Bát Chánh Đạo thì sẽ thân chứng được Khổ chấm dứt ngay bây giờ và tại đây.

Câu 3:  Có đúng là con người bình đẳng về khổ không?

Con có nghe Sư giảng rằng 6 loại Cảm thọ nhân với 3 loại khổ ra 18 loại khổ tâm do Tham, Sân, Si khởi lên. Còn một Khổ thọ trên thân là khổ thứ 19, khổ này do hoàn cảnh và chỉ chiếm 5-10% nỗi khổ của loài người. Dù nỗ lực thay đổi hoàn cảnh, con người cũng chỉ giải quyết được 5-10% nỗi khổ, còn 90-95% nỗi khổ nội tâm thì vẫn còn nguyên.

Theo con, khổ do hoàn cảnh chiếm 50% so với số lượng, còn thực tế liều lượng mỗi người một khác. Con thấy có những người có tính vô tư, lạc quan thì khổ do hoàn cảnh chiếm tỉ lệ cao. Nên những người đó nếu có điều kiện sống tốt, họ lạc quan, tự hài lòng thì gần như giải quyết được các nỗi khổ đó. Do đó, sự bình đẳng về khổ liệu có đúng không ạ?

Trả lời:

Quý vị sẽ thấy rằng, điều quý vị suy nghĩ như vậy là do bị chi phối bởi hiểu biết khổ do hoàn cảnh, chứ chưa thẩm thấu hoàn toàn cái khổ của nội tâm. Quý vị suy nghĩ rằng những người đang nghèo khổ, nếu họ vẫn sống vô tư như vậy, và bây giờ nếu họ thành tỉ phú, họ sẽ hết khổ liền. Quý vị đang dựa trên cái hiểu biết hiện tại của quý vị, cho rằng những người đó khổ là do hoàn cảnh. Nếu họ có tỉ đô la, họ sẽ hết khổ liền.

Quý vị chưa thấy được sự thật về lộ trình tâm Bát Tà Đạo và quý vị chưa thực sự kinh nghiệm được những người có một tỉ đô la họ có những nỗi khổ nào. Vì vậy, điều này về lý thuyết quý vị chưa thẩm thấu, chưa thấy được, chưa hiểu biết đúng sự thật về khổ và nguyên nhân của khổ là tâm, nội tâm là chính, chứ không phải hoàn cảnh. Kể cả khổ phát sinh trên thân gây nên một Khổ thọ, cái đó cũng là cảm giác, nó cũng là tâm chứ không phải là cảnh.

Khi nào quý vị tu tập, quý vị kinh nghiệm được khổ của quý vị giảm thiểu nhờ tu tập Bát Chánh Đạo, quý vị mới thấy là hoàn cảnh vẫn như xưa, tiền bạc vẫn như xưa, chồng con, gia đình vẫn như xưa, công ăn việc làm vẫn như xưa, nhưng bây giờ, quý vị thực hành Bát Chánh Đạo thì chỉ là đổi tâm chứ không phải đổi cảnh.

Xưa kia là 100% nỗi khổ, bây giờ cũng hoàn cảnh đó, công việc đó, gia đình đó, tiền bạc đó, nhưng quý vị thực hành, kinh nghiệm được 80% cái khổ trước đây là bây giờ đã chấm dứt. Còn lại vài chục phần trăm nỗi khổ đó cũng không lớn, và mình cũng có tiếp tục thực hành như thế này thì mình có thể chấm dứt, chấm dứt được 90-95% nỗi khổ nội tâm. Người đó tin như vậy.

Và nếu như một người đạt đến quả A La Hán thì người đó, thậm chí là không còn tài sản gì nữa, không có gì nữa, nhưng người đó kinh nghiệm rằng đến 99,9% nỗi khổ là chấm dứt. Cho nên, lúc đó những người đó mới khẳng định được rằng nỗi khổ của con người, cái nỗi khổ tâm là chiếm đến 90-95%. Đấy là chúng ta nói một cách để cho mọi người khỏi sốc thôi. Còn nếu như tuệ tri một cách rốt ráo thì nó là chín chín phẩy mấy phần trăm. Người mà giác ngộ hết khổ rồi thì những Cảm thọ khó chịu trên thân là không đáng kể.

Điều này Đức Phật nói trong kinh điển là cái khổ còn dư sót đó, là khổ do hoàn cảnh, so với cái khổ tâm mà đã chấm dứt thì nó giống như đất trên đầu móng tay so với đất trên quả đất này. Điều này là ngoài cái hiểu biết của người bình thường.

Cái này là phải là thân chứng Diệt đế và Đạo đế, lúc đó mới khẳng định được là cái khổ tâm này chiếm 90-95%.

Câu 4:  Dục ái – Tham ái Lợi Danh

Có rất nhiều người kinh doanh trên nền tảng đạo đức, tạo công ăn việc làm cho người khác và giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn, việc họ vẫn kiếm thêm tiền và chưa dừng lại là dục ái sao? Không lẽ mọi thứ chỉ vừa đủ mới không phải dục ái ạ?

Trả lời:

Quý vị phải quan sát cho kỹ, nếu không phải là Bát Chánh Đạo thì cho dù làm việc như thế nào đi nữa thì con người đều hướng đến lợi danh, đều vì tham ái thôi. Tham ái gì? Tham ái lợi, tham ái danh. Thí dụ như tiền bạc, ăn uống, xe cộ, các phương tiện nghe nhìn… tham muốn cái đó, muốn cái đó càng ngày càng nhiều, thì đó là tham lợi. Còn tham danh là gì? Tham mình được nổi tiếng, được ca ngợi, được kính trọng, được hơn người…

Quý vị thấy, những người rất giàu có, như ở Việt nam có những người có cả hàng nghìn tỷ, hoặc hàng chục tỷ… họ dùng số tiền đó phục vụ cho việc ăn uống, nhà cửa, đi lại, nghe nhìn… thì họ dùng cả đời cũng có hết được số tiền đó đâu. Tuy họ không dùng hết số tiền đó, nhưng họ vẫn tiếp tục làm, phải chịu rất nhiều áp lực, căng thẳng, cạnh tranh để tiếp tục làm ra tiền.

Thế nhưng quý vị phải hiểu, họ dùng số tiền đó để mua danh, họ muốn mình vĩ đại, nổi tiếng… Cho nên có cái lợi vật chất để giải quyết phần khổ thân cũng không nhiều lắm, nhưng con người tham ái danh mới kinh khủng.

Quý vị đã học rồi, tham ái hạnh phúc vật chất cũng đưa đến nỗi khổ kinh khiếp, nhưng tham ái hạnh phúc tinh thần còn khủng khiếp hơn. Nhìn bề ngoài tưởng là họ giàu có, rồi nổi tiếng… nhưng tại sao họ vẫn tiếp tục như vậy không ngừng nghỉ? Quý vị phải thấy, tham lợi thì nó chi phối rất kinh khủng rồi, nhưng tham danh còn chi phối con người càng kinh khủng hơn. Cho nên, không phải đến một lúc nào đó là biết đủ đâu.

Quý vị phải hiểu rằng, có khi họ đạt đến mơ ước là lợi và danh rồi, nhưng họ vẫn tiếp tục. Vì sao? Vì quý vị phải hiểu lộ trình tâm – lộ trình tâm gì? Đó là: Có được lợi đến mức đó, danh đến mức đó thì khi đạt được, lúc đầu là thích, nhưng thích một thời gian rồi thì bắt đầu chán, chán thì phải đi tìm một cái danh nào khác lớn hơn, vĩ đại hơn, nên phải tiếp tục lao tâm khổ trí để đi tìm.

Lộ trình tâm được cài đặt là thích > chán > ghét. Nếu có một cái gì, thí dụ như lúc đầu mới mua được một cái xe rất đẹp thì thích thú, hài lòng, thỏa mãn với cái xe đó; nhưng dùng một thời gian thì bắt đầu nhàm chán, thấy cái xe khác đẹp hơn, sang hơn… như vậy, chán cái xe này thì phải đi tìm cái xe khác nổi tiếng hơn. Con người bị chi phối bởi thích chán ghét, bởi Tham Sân Si, nên không bao giờ dừng lại được.

Tất cả những cái đó đều hướng đến lợi, đến danh. Nhưng lợi ở mức độ ban đầu thôi, còn khi lợi đã đầy đủ, ăn uống, nghe nhìn, đi lại… đầy đủ rồi thì lúc đó những thứ đó là bình thường, và lúc đó cái danh mới quan trọng. Phải hiểu cho đầy đủ như vậy.

Câu 5:   Mối liên hệ giữa Dục ái, Hữu ái và Phi hữu ái

Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái có liên quan với nhau không và nếu liên quan thì liên quan như thế nào? Con nghĩ là đoạn tận Dục ái có thể chưa chắc đoạn tận Hữu ái và ngược lại, đoạn tận Phi Hữu ái chưa chắc đoạn tận Hữu ái và ngược lại. Vậy người tu mỗi ngày cần phải suy xét lại về mức độ tham ái cả ba loại này hay nên tập trung đoạn trừ hữu ái?

Trả lời:

Sự liên quan của ba ái này, dục ái, hữu ái và phi hữu ái, là nguyên nhân khổ. Quý vị đã nghe giảng trong bài “Khổ đế và Tập đế”. Quý vị cũng có thể quan sát trong thực tế và tự suy xét thì quý vị cũng có thể tìm ra mối liên hệ trong thực tế.

Lộ trình thực hành để có Tuệ, để có hiểu biết đúng sự thật Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế thì phải đi theo tiến trình Văn – Tư – Tu. Văn là nghe giảng, Tư là tư duy về điều đã được nghe giảng và cuối cùng Tu tập để chứng đạt được điều đã nghe, đã tư duy đó.

Liên quan thì nó rất là đơn giản, rất nhiều.

Ví dụ, Dục ái có liên quan đến Hữu ái không? Dục ái là tham ái niềm vui hạnh phúc vật chất và tinh thần, tham ái tiền của… Còn Hữu ái: do hữu ái mà sợ chết. Thì quý vị thấy, người nào mà có nhiều tài sản, con cái… mà mình đang yêu mến, ràng buộc, thì người đó sợ chết. Là bởi vì, khi chết thì mất những thứ kia. Sợ mất những thứ kia là Dục ái, nhưng cũng do Dục ái cho nên mới sợ chết. Cho nên, dục ái có liên quan đến hữu ái là như vậy.

Quý vị muốn đi sâu, tìm hiểu kỹ càng thì có thể tư duy trên sự thật mà bài giảng là nền tảng. Còn quý vị không cần phải tìm hiểu liên quan cũng được, vấn đề này cũng không quan trọng lắm.

Cái quan trọng là quý vị phải thấy thế này: Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái là do cái Biết Tà kiến mà khởi lên. Cho dù là Dục ái, Hữu ái hay Phi hữu ái thì đều do cái Biết sai, cái Biết Tà kiến mà khởi lên. Nếu cái Biết Tà kiến không có mặt, thì kể cả Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái đều không có mặt. Khi cái Biết Tà kiến không có mặt thì đoạn diệt cả ba ái: Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái, chứ không phải lúc thì đoạn diệt dục ái, lúc thì đoạn diệt hữu ái, lúc thì đoạn diệt phi hữu ái đâu. Hễ cái Biết Tà kiến không có mặt, tư tưởng Tà kiến không có mặt thì không có mặt cả Dục ái, không có mặt cả Hữu ái, không có mặt cả Phi hữu ái. Chứ không phải là chỉ có mỗi dục ái là không có mặt mà hữu ái, phi hữu ái vẫn có mặt.

Để cái Biết Tà kiến không khởi lên, thì cách thứ nhất là quý vị tu tập Định: dừng lại cái Thấy, cái Thấy thuần túy không có cái Biết khởi lên. Không có cái Biết khởi lên thì cái Biết Tà kiến cũng không có mặt, thì lúc đó là không có cả Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái, cả ba cái đó không có.

Cách thứ hai là tu tập Tuệ: khi quý vị tu tập Tuệ, khi cái Biết Chánh kiến khởi lên thì cái Biết Tà kiến không có mặt, thì lúc đó Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái đều không có mặt.

Cho nên, quý vị cứ vững tâm mà tu tập, tu tập Định, tu tập Tuệ. Nó đưa đến đoạn trừ đồng thời cả ba. Chứ không phải lúc tu thế này thì đoạn trừ Dục ái, lúc tu thế kia thì đoạn trừ Hữu ái… mà nó đoạn trừ cả ba.

Câu 6:   Có phải mỗi nỗi đau là một món quà, một bài học giác ngộ?

Con hiểu, về bộ não, con người có xu hướng nhớ về nỗi đau nhiều hơn. Vậy đây có phải là lý do mà con người có khổ đau thì mới giác ngộ, đúng như câu nói “Nỗi đau là một món quà và ẩn sau mỗi nỗi đau là một bài học, một Tỉnh giác”.

Trả lời:

Rất nhiều người hiện nay cho rằng, chính đau khổ mới giúp ta học được bài học giác ngộ, cho nên phải cảm ơn đau khổ, tri ân đau khổ, và như vậy là phải YÊU MẾN đau khổ, phải không? Quý vị thấy, có khi nào yêu mến một người mà muốn vứt bỏ, xa lánh người đó không? Nếu xem rằng khổ đau là ân phước, khổ đau giúp ta học được bài học giác ngộ, giúp ta giác ngộ, như vậy là phải tri ân, yêu mến khổ đau, thế thì có bao giờ rời xa được khổ đau không? Những tư duy như vậy là tự mình mâu thuẫn với mình, nhưng mà họ không biết.

Phải quan sát sự thật để thấy rằng, cho dù con người có trải qua đau khổ cùng cực, nhưng những đau khổ đó không giúp ích gì cho con người, mà chỉ làm cho con người Vô minh, Chấp ngã hơn mà thôi. Trên đời này, chỉ có một người duy nhất, không thầy chỉ dạy, tự mình học được bài học để tuệ tri, để hiểu biết đúng sự thật về khổ đau. Không những là học được bài học về khổ đau, tự mình, không thầy chỉ dạy, mà còn học về nguyên nhân khổ đau, sự chấm dứt khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau. Độc nhất vô nhị chỉ có một người như vậy thôi. Đó chính là Đức Phật.

Quý vị đến đây để học điều Đức Phật đã phát hiện và chỉ dạy, chứ trên đời này không ai tự mình học được bài học về khổ đau. Cho nên, phải đến học bài học khổ đau với Đức Phật, lúc đó mới giác ngộ sự thật về khổ đau, mới có thể chấm dứt được khổ đau.

Phải nhận thức rõ ràng, không phải là phải trải qua khổ đau, biết ơn khổ đau, khổ đau sẽ dạy cho ta bài học giác ngộ. Những người đó rao giảng như vậy nhưng không biết là mình đang tư duy một cách mâu thuẫn. Tuy rằng họ cũng công nhận là hàng ngày đi học với Đức Phật, nhưng họ không biết rằng chỉ duy nhất một mình Đức Phật mới tự học được bài học giác ngộ từ khổ đau.

Câu 7:   Lý do vì sao mà rất nhiều người phát biểu: Tôi không có khổ gì hết?

Trả lời:

* Một là do hiểu biết sai về khổ và nguyên nhân khổ. Họ mặc định rằng khổ là do nghèo thiếu, bệnh tật, thiếu phước, bị người đời khinh rẻ… Họ thấy họ có đầy đủ mọi thứ, không có thiếu thốn cái gì cho nên dựa trên hiểu biết lệch lạc đó họ nói họ không khổ.

* Vì chấp thủ bản ngã, tôn xưng bản ngã cho nên con người luôn dối trá để che đậy mọi khiếm khuyết, mọi điều xấu xa của mình. Bị cho là khổ là một điều tồi tệ, bị khinh rẻ nên họ không chấp nhận mình khổ.

* Khổ, Vui đều sinh diệt, vô thường đắp đổi cho nhau nên khi đang vui thì họ tuyên bố không khổ nhưng đó là cái nhìn phiến diện, manh mún, không thấy được toàn cuộc vui ít khổ nhiều, não nhiều, mà nguy hiểm lại càng nhiều hơn.

Câu 8:   Nếu không có Tham thì làm sao loài người duy trì nòi giống, nếu không có Si thì làm sao xã hội phát triển tiến bộ. Tâm Si cũng có mặt tốt, có nên đoạn diệt không?

Trả lời:

Quý vị đã quan sát hai lộ trình tâm Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo. Bát Tà Đạo có Tham Sân Si và đưa đến khổ. Lộ trình tâm đó đưa đến khổ của kiếp sống hiện tại và khổ luân hồi tái sinh. Ở đây quý vị học và thực hành Bát Chánh Đạo để kinh nghiệm được đoạn trừ Tham Sân Si, đoạn tận khổ, đoạn tận luân hồi tái sinh.

Quý vị học bài luân hồi tái sinh, biết nỗi khổ của hóa sanh. Khi sống với thân người này, vui thì ít, khổ nhiều não nhiều mà nguy hiểm càng nhiều hơn. Rồi tiếp nối đời sống hóa sanh càng thống khổ hơn. Thấy được sự thật này để lông tóc dựng ngược, để quyết tâm thực hành Bát Chánh Đạo chấm dứt khổ, chấm dứt luân hồi tái sinh.

Sự phát triển của nhân loại chỉ giúp con người giải quyết được khoảng 5% nỗi khổ thân, còn khổ tâm vẫn còn y nguyên. Nhân loại sống với mong ước, mục đích để Hết Khổ Được Vui nhưng thực ra do Tham Sân Si vận hành, cho nên chỉ đổi khổ này lấy khổ khác mà thôi. Phải thấy được sự thật đáng kinh hãi đó để tu tập Bát Chánh Đạo chấm dứt luân hồi tái sinh ngay trong kiếp sống này. Luân hồi tái sinh là nỗi thống khổ vô cùng tận, phải tuệ tri để quyết tâm chấm dứt luân hồi tái sinh.

Tham Sân Si là trên Bát Tà Đạo, nhưng nếu được học về Tứ Thánh Đế đế, Bát Chánh Đạo thì tâm Tham Sân Si có một phần nào đó hướng đến Bát Chánh Đạo, lúc đó Bát Tà Đạo đó gọi là Bát Chánh Đạo hiệp thế. Ngày 9 quý vị học trên Bát Chánh Đạo gồm Bát Chánh Đạo hiệp thế và siêu thế. Trên Bát Chánh Đạo hiệp thế có dục như ý túc: có tham muốn tu tập Bát Chánh Đạo, có Sân sợ hãi luân hồi tái sinh, có Si tìm kiếm cách thức để tu tập Bát Chánh Đạo. Thì phần Tham Sân Si đó góp phần tu tập Bát Chánh Đạo nên nó thuộc về hiệp thế, đưa đến Bát Chánh Đạo. Khi tu tập Bát Chánh Đạo thì kể cả dục như ý túc đó cũng chấm dứt.

Câu 9:  Để thẩm thấu Diệt đế và Đạo đế, phải tuệ tri Khổ đế và Tập đế trước

Niệm Thân là để thấy như thật các pháp, không phán xét các sự vật hiện tượng, đạt được Tỉnh giác. Rồi Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp để hiểu biết đúng như thật về các sự vật hiện tượng. Vậy bố mẹ có thể không đưa trẻ đến trường, chỉ cần hướng dẫn nó thực hành Tứ Niệm Xứ? Đứa trẻ không thực hành các kỹ năng tư duy của phàm phu, không có kiến thức phổ thông, thì liệu một người có sống được trong xã hội hiện đại không ạ?

Trả lời:

Quý vị sẽ thấy rằng Giáo Pháp này nói về bốn vấn đề: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế, chứ không phải chỉ duy nhất về Diệt đế và Đạo đế hay Bát Chánh Đạo. Đối với một người chưa có kinh nghiệm về tâm Bát Tà Đạo, thì không thể nào tiếp thu được Bát Chánh Đạo. Nếu chưa hiểu đúng sự thật về Bát Tà Đạo, thì không thể nào hiểu đúng sự thật về Bát Chánh Đạo.

Quý vị học sâu rồi mới thấy rằng để thẩm thấu Diệt đế và Đạo đế, phải tuệ tri Khổ đế và Tập đế trước. Một đứa trẻ, nếu chỉ được dạy kỹ năng chú tâm liên tục, thì nó có thể học và rèn luyện được điều đó. Nhưng hiểu biết đúng sự thật về Khổ, Tập, Diệt, Đạo thì chưa thể tiếp thu được.

Đứa trẻ chưa đủ khả năng để thẩm thấu và tiếp thu Tứ Thánh Đế. Giáo Pháp này dành cho người trí tự mình giác ngộ. Một đứa trẻ, nếu không từng trải, không học kiến thức về cuộc đời, thì không thể tự học được Tứ Thánh Đế.

Có quan niệm sai lầm rằng trẻ xuất gia từ nhỏ chắc chắn sẽ học hành thành đạt tốt hơn. Đây là hiểu sai. Trẻ chưa có kinh nghiệm cuộc đời, thường sống với ảo tưởng, không thấy được sự thật. Chỉ khi lớn lên, trẻ mới học hỏi, kinh nghiệm được khổ trong cuộc đời, rồi nghe giảng Pháp, mới bắt đầu thấu hiểu Khổ đế và Tập đế.

Khi kinh nghiệm khổ còn quá ít, trẻ không thể hiểu biết một cách trọn vẹn, mà dễ ảo tưởng. Những người không trải nghiệm cuộc đời thường sống trong ảo tưởng nhiều hơn thực tại.

Tôi từng kể về Andersen – nhà văn viết truyện cổ tích tình yêu hay nhất thế giới. Ông viết về tình yêu rất kỳ diệu, mầu nhiệm, đầy ngọt ngào, không chút đau khổ. Tại sao ông viết được như vậy? Vì ông chưa bao giờ yêu và được yêu. Ông chưa từng trải qua sự thật cay đắng của tình yêu. Trong tự sự của mình, Andersen kể rằng ông rất xấu trai, đến mức phụ nữ nhìn ông như nhìn một cái cột điện. Ông chưa từng yêu, cũng chưa từng được ai yêu. Vì vậy, ông tưởng tượng tình yêu như thiên đường, mầu nhiệm và vi diệu. Nhưng một người yêu thật sự, họ sẽ không viết truyện cổ tích tình yêu như Andersen được.

Câu 10:  Khen ngợi để động viên người khác

Nếu như nói những lời không phải Chánh kiến nhưng giúp người khác bớt khổ ở hiện tại, có thể gây ra một kết quả đem đến một cái khổ khác trong tương lai, kết quả này vẫn chấp nhận được, theo lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Ví dụ như con biết có người họ rất yêu hoa thì con giúp người đó trồng hoa, nói những lời khen ngợi hoa đep, có hương thơm. Như vậy thì có vấn đề gì không thưa thiền sư?

Trả lời:

Câu hỏi này thì quý vị hỏi cũng được, nhưng đến khi quý vị thẩm thấu cái này rồi thì quý vị sẽ tự mình giải đáp được thắc mắc đó.

Quý vị thẩm thấu khóa học này, Pháp học, Pháp hành và Pháp thành, thì quý vị thấy rằng, không ai giúp được cho ai giảm thiểu được khổ cả. Quý vị thấy, khổ là do Tham Sân Si trong nội tâm mỗi người, và phải là người đấy thực hành Bát Chánh Đạo mới hết khổ, còn không ai giúp cho người đó hết khổ được.

Quý vị phải thấy, cái ý là mình nói những lời này, làm những việc này giúp cho họ hết khổ, thì điều này xuất phát từ cái hiểu Vô minh, cho rằng khổ hay vui là từ bên ngoài mà đến với mình. Quý vị phân biệt: Vô minh là cho rằng, hạnh phúc hay khổ đau là từ bên ngoài mà đến với mình. Như vậy là mình có thể giúp cho người hạnh phúc, cũng có thể làm cho người đau khổ. Khi mình vui, hạnh phúc thì hiểu rằng hạnh phúc của mình là do người khác mang đến, do tiền bạc, hay xe cộ, phương tiện… làm cho mình hạnh phúc; hay là khổ khởi lên là do người đó, do con cái, do vợ chồng, hay do thời tiết khắc nghiệt làm cho mình khổ, do hoàn cảnh nghèo đói làm cho mình khổ… Thì đó là hiểu biết của nhân loại.

Đương nhiên, hiểu biết của nhân loại như vậy thì cũng hiểu biết là mình có thể giúp cho người này sung sướng, giúp cho người kia hạnh phúc, là bởi vì hạnh phúc hay khổ đau là từ bên ngoài đến. Đối với hạnh phúc hay khổ đau của mình thì cho là từ bên ngoài, đối với hạnh phúc hay khổ đau của người khác thì cho rằng bên ngoài mang đến cho họ. Cho nên, mình có thể giúp cho họ hạnh phúc, có thể làm cho họ đau khổ.

Quý vị có thấy câu hỏi này là đang xuất phát trên hiểu biết đó không?

Bây giờ quý vị học, quý vị hiểu rằng hạnh phúc hay khổ đau trên Bát Tà Đạo là trong nội tâm mỗi người. Thích thú đối tượng đó thì sẽ hạnh phúc với đối tượng đó, chán ghét đối tượng đó thì sẽ khổ với đối tượng đó. Cho nên Khổ Vui của mỗi người là từ lộ trình tâm Bát Tà Đạo, chứ không phải là từ bên ngoài mang đến, không phải ai làm cho mình vui hay mình khổ.

Và quý vị thấy, tác động của người khác, làm cho người đó vui hay người đó khổ, thì cũng chỉ là đổi khổ này lấy khổ khác thôi. Ví dụ, quý vị nói những lời hay, ý đẹp, động viên người đó, làm cho người đó vui sướng, hạnh phúc. Thì không phải là lời nói hay chính quý vị làm cho người đó hạnh phúc, mà chính là do người đó thích thú những lời nói của quý vị, những lời hay ý đẹp, động viên – thích thú những cái đó, cho nên là họ vui. Nhưng quý vị không biết rằng, những lời hay ý đẹp, lời động viên làm cho họ vui thích đó thì đưa đến là họ ràng buộc, muốn nghe những lời đó mãi. Cho nên, khi được nghe những lời đó thì họ vui, hạnh phúc, nhưng đến khi họ không được nghe những lời đó nữa, mà nghe những lời đối nghịch, thì lúc đó, vì thích thú những lời hay ý đẹp, mà bây giờ không được nghe, mất những cái đó đi rồi, thì họ mới giận dữ khi mất những cái đó. Cho nên, giúp họ vui lúc này nhưng chính đó là nguyên nhân làm cho họ khổ khi họ không còn được nghe những lời hay ý đẹp, mà họ nghe những lời chê bai, ngược lại cái đó.

Quý vị thấy, thích và ghét là hai mặt của thực tại này. Thích nghe những lời hay ý đẹp là ràng buộc với nó, muốn mãi mãi được nghe như vậy, cho nên khi không được nghe như vậy, mà nghe những điều ngược lại, phỉ báng, chê bai, thì ghét sẽ khởi lên. Cho nên, quý vị mới thấy mối liên quan giữa thích và ghét là như vậy.

Đối với Giáo Pháp này chỉ nói đến Tham thôi, còn thực chất Sân Si là những biến thể của Tham.

Câu 11:  Nguyên nhân sâu xa của việc Thích người này, sự việc này nhưng lại Ghét người kia, sự việc kia?

Trả lời:

Nguyên nhân sâu xa là VÔ MINH hiểu biết sai sự thật các sự vật hiện tượng nhưng gần nhất là HIỂU BIẾT SAI VỀ KHỔ VÀ NGUYÊN NHÂN KHỔ. Do hiểu biết Vô minh đã mặc định rằng: Khổ Vui thuộc thế giới bên ngoài mà đến với con người, Thế giới ngoại cảnh gây ra Khổ Vui cho con người.

Vì vậy, khi thấy nghe, cảm nhận đối tượng, con người này dễ chịu thì MẶC ĐỊNH trong đối tượng này có Hạnh phúc (Vui), sẽ mang Hạnh phúc đến cho Ta nên Thích thú (Tham) đối tượng.

Khi thấy nghe, cảm nhận đối tượng, con người kia khó chịu thì MẶC ĐỊNH trong đối tượng này có Khổ, nó sẽ mang Khổ đến cho Ta nên Ghét (Sân) với đối tượng.

Khi học hiểu được Khổ, Nguyên nhân Khổ thuộc nội tâm chứ không thuộc thế giới ngoại cảnh và Hành (Rèn luyện trí nhớ Chánh hay Chánh Niệm) thuần thục thì đối diện với đối tượng này, người này hay đối tượng kia, người kia Thích Ghét sẽ không còn nữa.

Luôn trạch pháp về HAI LOẠI HIỂU BIẾT Vô minh và minh về Khổ Tập Diệt Đạo trong từng sự việc cụ thể cuộc sống hàng ngày thì Vô minh sẽ bị xoá bỏ.

Câu 12:   Hiểu đúng về tâm Si

Xin Sư giảng giải kỹ hơn về tâm hành Si. Có phải tâm Si trong bài giảng Khổ đế – Tập đế là nguyên nhân dẫn đến trạng thái tâm suy nghĩ linh tinh, hay suy diễn (overthinking) phải không?

Trả lời:

Đúng vậy, suy nghĩ nhiều, suy nghĩ linh tinh là biểu hiện của tâm Si, đi tìm kiếm những đối tượng dễ chịu để thay thế đối tượng trung tính hoặc khó chịu trong hiện tại.

Trong kinh điển thì gần như người ta đồng hóa Si với ngu Si, với Vô minh. Quý vị phải hiểu rằng, đây là hiểu biết hoàn toàn sai lạc. Si không phải là tâm Biết. Tâm Biết thì có cái Biết Vô minh và biết Minh. Biết Vô minh thì có thể gọi là ngu si, là không biết đúng sự thật.

Nhưng mà từ “tâm Si” nằm ở trong tổ hợp là Tham Sân Si đi liền nhau, là ba tâm hành hay là ba thái độ đối với ba loại đối tượng: Đối tượng dễ chịu thì Tham, tức tiếng Việt là Thích thú đối tượng đó. Còn đối tượng khó chịu là Sân, tức là tức tối giận dữ đối tượng đó. Hai cái đó – Tham và Sân thì rất thô, rất rõ ràng. Nhưng còn một đối tượng thứ ba nữa chứ. Đối tượng dễ chịu, rồi đối tượng khó chịu, còn có đối tượng thứ ba là đối tượng trung tính, không dễ chịu, không khó chịu. Thì thái độ đối với đối tượng thứ ba  , trung tính này – thái độ đó gọi là Si, mà tiếng Việt gọi là Chán. Cho nên, nếu như nói theo thuật ngữ Hán Việt là Tham Sân Si, còn tiếng Việt là Thích Ghét Chán. Si chính là t      hái độ Chán đối tượng.

Và quý vị phải quan sát là chán đối tượng đó thì sẽ đi tìm đối tượng khác để thay thế phải không? Cho nên Si là một tâm hành, nó đi cùng với Tham Sân. Ba từ đó đi liền nhau, Tham Sân Si là chỉ ba thái độ đối với ba đối tượng dễ chịu, khó chịu, trung tính (mà thuật ngữ Phật học gọi là Lạc thọ, Khổ thọ, Bất khổ bất lạc thọ.)

Quý vị thực hành Chánh Niệm về Thân để kinh nghiệm chấm dứt gần như mọi suy nghĩ linh tinh. Không phải là chấm dứt mọi suy nghĩ, khi thực hành quý vị chỉ suy nghĩ về một đối tượng duy nhất là suy nghĩ về “cái Thấy” thôi. Khi quý vị khởi lên “thấy, thấy” thì phải có suy nghĩ về cái Thấy, và cái Biết chỉ biết về cái Thấy thôi.

Còn hàng ngày quý vị Bát Tà Đạo thì suy nghĩ về đối tượng được thấy. Quý vị hiểu thế này: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh cái Thấy đồng thời với đối tượng được thấy. Lộ trình tâm Bát Tà Đạo thì suy nghĩ liên tục, là bởi vì suy nghĩ về đối tượng được thấy. Đối tượng được thấy thì vô vàn, lúc thấy cái này lúc thấy cái kia, liên tục từ cái này sang cái khác, cho nên suy nghĩ cũng liên tục từ đối tượng này sang đối tượng khác. Thấy xong, rồi suy nghĩ, mới khởi lên cái Biết, suy nghĩ đó là về đối tượng được thấy.

Bây giờ quý vị thực hành thì vẫn có cái Biết khởi lên, nhưng biết về cái Thấy thôi, chứ không phải biết về đối tượng được thấy. Cái Thấy thì chỉ có một, lúc đó chỉ khởi lên “thấy, thấy” thôi – có cái Biết về cái Thấy, không có cái Biết về đối tượng được thấy. Nó vi tế như vậy.

Tại một thời điểm chỉ có một đối tượng thôi. Trong giây phút hiện tại, nếu đối tượng dễ chịu thì tâm Tham khởi lên; nếu đối tượng khó chịu thì tâm Sân khởi lên; còn nếu đối tượng hiện tại là trung tính thì tâm Si khởi lên. Tâm Si sẽ tìm thấy đối tượng dễ chịu ở đâu? Tìm trong quá khứ hoặc tương lai (vì hiện tại lúc đó đang chỉ có đối tượng trung tính).

Tâm Si tuy mục đích là tìm kiếm đối tượng dễ chịu trong quá khứ hoặc tương lai nhưng khi tìm kiếm như vậy, nó có thể bắt gặp đối tượng dễ chịu hoặc khó chịu, hoặc trung tính (phụ thuộc lượng thông tin trong bộ nhớ) chứ không phải lúc nào cũng tìm được đối tượng dễ chịu.

Đối với những người trầm cảm, bị rối loạn cảm xúc thì họ có nhiều đối tượng chán ghét, bộ nhớ của họ tại thời điểm đó rất nổi trội các thông tin chán ghét. Nên khi họ thấy, nghe, cảm nhận đối tượng nào thì cũng đều bị ảnh hưởng bởi Tà niệm kích hoạt các thông tin chán ghét, làm phát sinh Tà tư duy, đưa đến Tà tri kiến kết luận các đối tượng đó đều là khó chịu, chán ghét. Ngoài ra, những căng thẳng hàng ngày xảy ra liên tục cũng được lưu vào trong bộ nhớ, nổi trội trong bộ nhớ, nên khi lộ trình tâm khởi lên đều bị chi phối bởi các thông tin chán ghét, khó chịu và trung tính, dẫn đến thấy, nghe, cảm nhận gì cũng đều thấy chán ghét.

Câu 13:  Nguyên nhân gốc rễ của Khổ là Tham hay Năm Thủ Uẩn?

Khi học pháp con nghe sư giảng Đức Phật dạy: “Tham Sân Si là nguyên nhân của khổ.” Có đoạn con thấy Sư giảng Đức Phật dạy: “Tham ái là nguyên nhân của khổ.” Cũng có đoạn con hấy Sư giảng: “Đức Phật dạy: Tóm lại Năm Thủ uẩn là Khổ.” Vậy thì nguyên nhân gốc rễ của Khổ là tham, hay Năm thủ uẩn, hay Vô minh, hay gì khác nữa ạ?

Trả lời:

Quý vị thấy lộ trình tâm: Căn – Trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ – Tưởng, tiếp đến Tà niệm, Tà tư duy phát sinh Tà tri kiến – Tà tri kiến này là Vô minh, Chấp ngã. Và quý vị phải thấy rằng, nguyên nhân của Khổ cũng phát sinh theo một lộ trình duyên khởi, gồm nhiều quá trình nhân quả nối tiếp nhau chứ không phải Tà tri kiến, Vô minh đó trực tiếp làm phát sinh ra khổ.

Quý vị quan sát trên lộ trình tâm: Tà tri kiến lúc đó phát sinh Tham Sân Si, thì ngay Tham Sân Si đó cũng phát sinh một lộ trình tâm thứ cấp rồi. Rồi có những lộ trình tâm thứ cấp nữa: Tham Sân Si phát sinh Tà định, Tà định phát sinh Dục, Dục phát sinh Tà tinh tấn, Tà tinh tấn phát sinh Phi như lý tác ý, Phi như lý tác ý phát sinh Tà ngữ, hoặc Tà nghiệp, hoặc Tà mạng. Chính ngay những thông tin Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng này lại tiếp tục phát sinh các nội xúc thứ cấp nữa, lúc đó mới phát sinh Khổ Vui.

Cho nên, Tà tri kiến không phải trực tiếp phát sinh ra Khổ Vui đâu, mà nó phát sinh rất nhiều cái khổ, theo các lộ trình nhân quả nối tiếp nhau.

Vì vậy, nguyên nhân gốc rễ là Tà tri kiến, là Vô minh, là Năm thủ uẩn, bắt đầu trên lộ trình tâm đó. Tiếp đến là hoặc Tham, hoặc Sân, hoặc Si, chứ không phải trực tiếp Năm thủ uẩn phát sinh ra khổ. Nó là các quá trình nhân quả nối tiếp nhau.

Còn tại sao lúc thì nói Tham Sân Si là nguyên nhân Khổ, lúc thì nói Tham ái là khổ? Quý vị thấy, Sân và Si chỉ là biến thể của Tham thôi. Vì tham ái đối tượng dễ chịu, ràng buộc với nó, cho nên khi mất nó đi thì lúc đó xuất hiện đối tượng khó chịu, Sân khởi lên. Nếu như nhìn kỹ thì Sân đó cũng là một biến thể của Tham thôi. Đã tham thích đối tượng dễ chịu, ràng buộc với đối tượng dễ chịu thì khi không có đối tượng dễ chịu mà có đối tượng trung tính thì sẽ đi tìm đối tượng dễ chịu để thay thế đối tượng trung tính này. Có phải Si đó cũng là biến thể của Tham không?

Cho nên nói Tham là tổng quát, còn diễn giải cho từng trường hợp riêng lẻ thì chúng ta nói đến Sân và Si. Thực ra Sân và Si là các biến thể của Tham thôi.

Thiền sư Nguyên Tuệ

Để lại một bình luận